Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0963.53.88.39 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Báo Quân Giải Phóng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước

Cập nhật lúc 06:34 11/05/2019

Thủa ấy, người làm báo chúng tôi chỉ có cây viết bi, một tập vở học trò để viết bài và một khẩu súng ngắn để tự vệ. Khi ở trận địa tốt nhất là mượn thêm được khẩu súng trường K44 hoặc tiểu liên AK, chúng tôi chẳng khác gì một người lính thực thụ.

Các phóng viên báo quân giải phóng chuẩn bị tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ ( 1971- 1972)

 

Vừa cầm bút, vừa phải cầm súng.

Thời đó, chúng tôi viết bài ngay tại trận địa. Im tiếng súng, tiếng bom tiếng đạn thì viết sao cho nhanh để kịp gửi bài về cho báo. Súng nổ, bom rơi thì tạm ngừng bút vơ ngay lấy cây súng, sẵn sàng cùng đồng đội chiến đấu để bảo vệ mình, bảo vệ đồng đội, giữ vững trận địa. Có chiến thắng và còn sống mới có bài viết cho Báo. Nhà báo Ngọc Châu đi cùng với đơn vị bộ đội đánh vào Sài Gòn đã bị trúng bom xăng cháy một cây đuốc giữa cánh đồng chợ Đệm – Tân Kiên quận Bình Chánh, nhà báo Thân Trọng Hân đi cùng bộ đội đánh vào Ngã Năm chuồng chó, đã hy sinh ngay trên đường phố, từ năm 1968 cho đến nay nấm mồ của các anh trên đất Sài Gòn, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy. Nhưng tên tuổi các anh, hình hài các anh vẫn sống mãi trong trái tim chúng tôi không bao giờ có thể phai mờ được. Vì các anh đã ngã xuống cho sự nghiệp của tờ Báo Quân Giải Phóng sống mãi.

Nhà báo Phạm Phú Bằng (Phạm Hồi) là một trong những cán bộ lãnh đạo của Báo Quân Giải Phóng luôn xông xáo xuống tận trận địa, tham gia các trận đánh lớn như chống càn Gian Xơn Cy Ty I, Gian Xơn Cy Ty II, rồi Tổng công kích Mậu Thân 68, anh đã cùng với bộ đội đánh vào căn cứ Mỹ ở Cổ Loa Phù Đổng. Chính ở đây anh đã bị bom giặc ném sập hầm, chấn thương sọ não, gãy đùi. Nhưng sau khi chữa khỏi anh vẫn cho ra đời nhiều bài viết có giá trị lớn như “ Lửa rừng Tây Ninh”, “ Trận Tuyến ven đô”... Nhà báo Đình Thịnh đã 10 năm mòn vai vác ba lô theo bộ đội ra mặt trận. Đặc biệt là đối với Sư Đoàn 9 (Công Trường 9) nhà báo Đình Thịnh đã ra trận địa đánh Tà Xia, Bến Cầu, Trà Cao, đánh phục kích trên đường 22 – Tây Ninh với những bài viết tươi rói ngay sau trận đánh: Bến Cầu Nổi Lửa Thiêu Xác Giặc Mỹ, Trà Cao dồn dập chiến công... trong suốt những năm 1968, 69, 70, 71... rồi năm 1972 lại quay xuống chiến trường Bà Rịa, Biên Hòa đi cùng với Trung đoàn Đồng Nai đánh địch trong rừng cao su Thành Long, tấn công chi khu Đất Đỏ, căn cứ Long Hải... Với bài viết thật sốt rẻo, chỉ sau 3 ngày, nhờ có Phân xã Bà Rịa ra bài “Rừng cao su Thành Long nổi lửa thiêu xác bọn biệt động quân ngụy” đã phát trên Đài Hà Nội làm nức lòng quân dân Bà Rịa – Biên Hòa. Năm 1973 Hiệp Định Paris đã ký kết chung nhưng chiến tranh vẫn chưa chấm dứt, bọn ngụy vẫn ngoan cố lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

Các trận đánh ác liệt ở Tây Bến Cát, ở Bù Bông, Kiến Đức – Tây Nguyên và cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhà báo Đình Thịnh luôn có bài kịp thời cho Báo Quân Giải Phóng. Nhà báo Trần Phấn Chấn luôn bám sát địa bàn Long An. Chính trên chiến trường này, anh đã bị đạn giặc xuyên thủng bắp đùi khi đi cùng với tiểu đoàn Gia Rông trên mặt trận Long An trong Tết Mậu Thân năm 1968. Anh đã được nhân dân hết lòng thương yêu, đùm bọc cứu chữa, anh đã ghi lại và cảm ơn tình cảm yêu thương ấy bằng bài “ Lòng mẹ Long An”. Khi chữa khỏi vết thương, anh lại tiếp tục quay lại mặt trận này, cùng bộ đội Long An tham gia các trận ác liệt ở Long Khốt để có bài viết sắc sảo. Năm 1968, nhà báo Đặng Văn Nhưng đi với đơn vị Hậu Cần xuống phục vụ chiến trường tây bắc Sài Gòn, anh đã bị thương ngay trên bờ sông Sài Gòn 1968. Khi chữa khỏi anh lại tiếp tục tham gia chiến trường ấy, không quản ngại nguy nan. Anh đã được phòng Tuyên Huấn – cục chính trị miền giao cho viết bài về nữ anh hùng Lê Thị Gấm – người con bất khuất của quê hương Long An. “ Trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc” và nhiều bài báo đặc sắc khác… Chính vì vậy sau này anh đã trở thành Tổng biên tập Báo Quân Đội Nhân Dân. Nhà báo Hải Bật đi cùng với Đại đội 7 Anh hùng của Sư đoàn 9 ( Công Trường 9) đánh vào Hóc Môn, Bà Điểm đã phải trực tiếp cầm súng cùng với bộ đội chiến đấu. Bị bom, pháo địch bắn trúng hầm bay hết cả súng đạn quần áo vẫn không rời trận địa. Nhà báo Phạm Ngọc Thành, nhà báo Tô Sản là một cặp đôi rất gắn bó trên chiến trường Biên Hòa – Bà Rịa luôn đồng hành cùng với Sư Đoàn 5 anh hùng trong những năm đói cơm, thiếu muối và đã có lần suýt chết chìm trên dòng sông Mã Đà, nước cuồn cuộn chảy trắng xóa trong mùa mưa lũ hung dữ. Nhưng cũng không sờn lòng. Sau lại được chuyển sang đi với sư đoàn 7 ( Công trường 7 ) đánh giặc trên chiến trường Bình Phước với bài viết rực lửa căm hờn “ Vằm nát cứ điểm Lộc Ninh” cùng với bài “ Sấm sét đầu xuân trên căn cứ điểm Dầu Tiếng” của Tô Sản. Nhà báo Phan Tư, nhà báo Tô Tấn cũng là một cặp luôn bám sát trên chiến trường I – Tư, nơi có Củ Chi Đất Thép Thành Đồng và đã từng được mệnh danh là vùng tam giác sắt vì nơi đó địch đã tha hồ bắn, tha hồ đội bom. Mặc dầu vậy các nhà báo này vẫn luôn cùng đồng bào, đồng đội bám sát chiến trường “ một tấc không đi, một ly không rời” với địa đạo Bến Dược – Củ Chi lừng danh. Có lần nhà báo Phan Tư đã cùng hai cán bộ địa phương bị mắc kẹt giữa vòng vây dầy đặc lính Mỹ trên bờ sông Sài Gòn hơn 20 ngày trong khi 3 người chỉ có một ruột tượng gạo. Mỗi ngày 3 người phải dè sẻn chia nhau từng nhúm gạo, nhai sống cùng nước sông Sài Gòn, vẫn kiên cường bám địa bàn và sau đó đã cho ra bài “ Lão pháo binh trên Đất Thép Thành Đồng”. Nhà báo Tô Tấn cũng vậy, luôn bám theo tiểu đoàn 7 – Tiểu lửa trên địa bàn Củ Chi – Trảng Bảng ( Tây Ninh ) để có bài góp mặt cho báo Quân Giải Phóng những năm tháng đánh Mỹ gian Khổ ác liệt nhất. Còn phải kể đến nữa là các nhà báo Mai Bá Thiện, Đỗ Công Viện, Xuân Huy, Lê Văn Minh, Duy Khải… là những phóng viên kiên cường luôn bám sát các đơn vị chủ lực của Đông Nam Bộ như Sư Đoàn 7 ( Công Trường 7 ), Sư đoàn 5 ( công trường 5 ) trên các mặt trận nóng bỏng Bình Long, Phước Long, Tây Bến Cát – Thủ Dầu Một. Nhiều lần bị bom vùi lấp, chết hụt vẫn không rời đơn vị. Chính vì vậy mới có nhiều bài viết đầy sức nóng bỏng của không khí chiến trường ngay sau trận đánh như “ Lửa căm thù đốt cháy căn cứ Đồng Dù” của Xuân Huy, “ Hai đêm liền thắng lớn ở Bến Tranh” của Đỗ Công Viện, “ Những chiến sĩ đại đội 7 anh hùng trên đường 13” của Mai Bá Thiện, “ Những người du kích xã V” “ Tấm lòng má Năm” của Long Hà ( Ngô Đăng Rêu ) “ giặc Mỹ no đòn ở Trà Phí” của Lê Văn Minh, “ Nhận chìm tàu 10 nghìn tấn” của Duy Khải, “ Đòn sấm sét giáng trả bọn lấn chiếm” của Lê Quang Mưu đặc biệt trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các anh luôn bám sát các đơn vị đánh trên mặt trận Xuân Lộc, Long Thành, Bà Rịa cac anh cũng là những người bộ đội vào giải phóng Sài Gòn sớm nhất.

Nối tiếp truyền thống

Không chỉ trên mặt trận Quân sự mà trên mặt trận chính trị cũng có những cây bút sắc sảo như nhà báo Hồ Văn Sanh ( Bảy Sanh ) Nguyễn Viết Tá, Trần Nam Hương với những bài báo đầy tinh chiến đấu và thuyết phục như: “ Xốc tới trong tổng tấn công”. Mỹ bế tắc về quân sự lẫn chính trị”. Không nên làm tên lính chết cuối cùng ở Việt Nam”, “ Nickson đang sống những ngày đen tối”… đã góp phần làm nên sức mạnh của tờ báo. Chính nhờ có sự lăn lộn của các nhà báo trên chiến trường mà các tờ báo Quân Giải Phóng không lúc nào bị đứt mạch trong những năm dài đánh Mỹ. Tiếp theo các nhà báo này, cuối năm 1969 lại được bổ sung thêm một số phóng viên mới như Lê Quang Mưu, Ngọc Lưu Nguyễn Đức Toàn, Đào Bá Hạp, Vũ Hữu Sự... từ các đơn vị chiến đấu rút lên, làm cho đội ngũ phóng viên thêm hùng hậu. Đặc biệt cuối năm 1973, Báo Quân Giải Phóng lại được bổ xung thêm một đội ngũ phóng viên mới từ Miền Bắc vào hơn 10 người gồm: Cẩm Hùng, Hoàng Huân. Việt Ân, Đỗ Tất Thắng, Đỗ Đình nghiệp, Đỗ Xuân Trường, Trần Đình Bá, Hoàng Huân, Vũ Hồng Nhung, Lê Huy Nhật , Lê Văn Sung, Vũ Ngọc Xiêm đã làm tăng thêm sinh khí mới cho Báo Quân Giải Phóng. Mặc dầu mới vào chiến trường, và còn rất trẻ nhưng nhiều nhà báo như Việt Ân, Trần Đình Bá, Hoàng Huấn, Vũ Hồng Hưng, Vũ Ngọc Xiêm... đã nhanh chóng hòa nhập với đội ngũ phóng viên cũ, sớm ra mặt trận và đã có bài viết kịp thời phục vụ cho các trận đánh chống lấn chiếm của địch trên các mặt trận Bình Long, Phước Long Tây Ninh, Sài Gòn Gia Định... như “Chiến công trên chốt thép” của Hoàng Huân, “Một khẩu đội quyết thắng” của Việt Ân, “Những tiếng gọi trả thù” của Đỗ Tất Thắng, “Trận địa màu xanh” của Vũ Ngọc Xiêm, “Thọc sâu, đánh nhanh diệt gọn” của Vũ Hồng Hưng... Đặc biệt đã góp phần phục vụ tích cực trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam.

Chính vì thế mà ngay sau giải phóng Sài Gòn, nhờ có hoạt động năng nổ của ông Nguyễn Viết Tá – người đang phụ trách Báo Quân Giải Phóng lúc bấy giờ cùng với sự trợ giúp tích cực về kỹ thuật in của ông Lê Huỳnh, Báo Quân Giải Phóng đã kịp thời ra mắt độc giả Sài Gòn cùng đồng bào cả nước tưng bừng đón chào ngày giải phóng.

Vào ngày 15 tháng 8 năm 1975, báo Quân Giải Phóng đã ra số báo 318 tại Sài Gòn là số báo cuối cùng, kết thúc nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của Báo Quân Giải Phóng để chuyển giao sứ mệnh cho Báo Quân Khu 7, trong tình hình nhiệm vụ mới.

Còn gì sung sướng, tự hào hơn cho những người lính cầm bút của Báo Quân Giải Phóng, hơn 12 năm trên chiến trường đánh Mỹ ( từ năm 1963 đến 1975) góp phần vào sự nghiệp chiến đấu thiêng liêng của dân tộc cho tới ngày toàn thắng.

Giờ đây sự nghiệp ấy lại được thế hệ Báo – Truyền Hình Quân khu 7 kế tục với đội ngũ phóng viên trẻ, đầy năng lực, đầy nhiệt huyết như Ngô Xuân Giang, Nguyễn Văn Bắc, Tuấn Anh, Lại Thế Hiển ... với đầy đủ phương tiện tác nghiệp, không chỉ với cây bút bi và mấy tờ giấy học trò mà còn đầy đủ các loại máy quay, máy chụp, máy chiếu, máy ghi âm, ghi hình... với đội ngũ lành nghề. Nhưng mạnh mẽ và vững vàng nhất vẫn là đội ngũ cầm bút có nhiệt huyết vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Đó chính là thế hệ: Hậu sinh khả úy của Báo Quân Giải Phóng. Chúng tôi tin rằng thế hệ ấy sẽ góp phần xứng đáng trong sự nghiệp chính trị của Đảng của dân tộc, là nguồn động viên cổ vũ mạnh mẽ cho các chiến sĩ từ biên cương đến hải đảo xa xôi, luôn luôn nắm chắc tay súng bảo vệ vững chắc chủ quyền của độc lập dân tộc, bảo vệ hòa bình.

 

ĐÌNH THỊNH

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác

Danh sách liệt sĩ đã quy tập

  Tên chiến sĩ Quê quán
1 Nguyễn Xương Thái Bình
2 Nguyễn Văn Tuy Thái Bình
3 Phạm Văn Tuấn Thái Bình
4 Vũ Văn Tiến Thái Bình
5 Tèo Thái Bình