Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Chặng đường gian khó và vinh quang

Cập nhật lúc 09:35 03/07/2020

(ĐTTA) - Tôi sinh ngày 06/02/1953 tại Tân Trung, Tân Yên, Bắc Giang. Năm 1970, sau khi tốt nghiệp Trường Phổ thông cấp III (hệ 10 năm), tôi thi đỗ vào Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Tôi chưa nhận được giấy báo nhập học. Cuối năm 1970, tôi khám tuyển nghĩa vụ quân sự và đủ sức khỏe; lúc đó 17 tuổi, chờ đủ tuổi 18 để nhập ngũ.

Đầu năm 1971, hưởng ứng Phong trào: “Thanh niên đi xây dựng cơ bản” do Trung ương Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh (nay là Đoàn Thanh niên cộng sản) phát động, Xã đoàn vận động Đoàn viên, thanh niên địa phương tham gia. Tôi viết đơn tình nguyện và được tuyển.
 
Ngày 01/4/1971, tôi trở thành công nhân Xí nghiệp sản xuất đá thuộc Ty Kiến trúc Hà Bắc (nay là Bắc Giang) đóng tại xã Đồng Tiến, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
 
Ngày 18/5/1972, từ công nhân, tôi nhập ngũ và được biên chế về Trung đoàn 568 đóng quân tại Mai Siu, Lục Nam, Bắc Giang.
 
Ngày 28/9/1972, sau thời gian huấn luyện và được về phép thăm nhà, chúng tôi đi B (vào miền Nam chiến đấu). Từ Mai Siu, đoàn quân vượt đèo Trê sang Chí Linh - Hải Dương. Chiều tối ra ga Cẩm Giàng đi tàu hỏa về ga Hàng Cỏ - Hà Nội, chuyển tàu về ga Thường Tín - Hà Đông. Đoàn quân nghỉ ở nhà dân vài ngày bổ sung trang bị. Một chiều tối, lại ra ga Thường Tín lên tàu hỏa tới ga Ý Yên - Nam Định; đi bộ, vượt phà sông Đáy sang đất Ninh Bình, đi ô tô tới Hà Trung - Thanh Hóa. Từ đây, đoạn đường đi xe đã hết, bắt đầu hành quân “bằng đôi chân đi vạn dặm”. Đoàn quân đi dọc miền núi Thanh Hóa tới Nghệ An, vượt đò sông Lam sang Cẩm Lạc, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, chúng tôi được dừng chân 1 ngày. Buổi sáng, cả Tiểu đội ra con suối cạnh nhà tắm giặt. Suối nhỏ, nhưng nước chảy khá xiết. Tôi không biết bơi. Nghe đồng đội động viên, cứ lao qua giữa dòng sang bờ bên kia, anh em sẽ đón. Nào ngờ, vừa lao qua đã bị nước cuốn trôi. Đồng đội lao ra cứu giúp, túm được tay tôi lôi vào bờ, sau khi “đã nếm vị ngọt” của vài hớp nước chui vào bụng. Suýt chết đuối trên đường hành quân cứ ám ảnh tôi. Đến khi 60 tuổi về hưu, tôi quyết tâm học và biết bơi, coi đây là một “chiến công” của đời mình.
 
Sang đất Quảng Bình, vượt đò sông Gianh tới Binh trạm 1 - Binh trạm đầu tiên trên dãy Trường Sơn. Hành quân suốt dải đất miền Trung gian khó, chúng tôi đều được nhân dân giúp đỡ, đùm bọc, che chở.
 
Đoàn quân bắt đầu vượt dãy Trường Sơn hùng vĩ với “chiếc gậy Trường Sơn” lịch sử. Đang hành quân, trời đổ mưa xối xả. Đúng là: “Mưa rừng ơi! Mưa rừng!”.
 
Phía trước là “dốc ba thang” được bắc nối tiếp ba cái thang làm bằng cây rừng để bộ đội trèo lên trên cao. Mỗi chiến sỹ đeo ba lô, mang vác trên vai 45-50kg nhích lên từng bước. Hành quân trên dãy Trường Sơn trùng điệp, hiểm trở. Vất vả nhất là gặp trời mưa. Đến nơi trú quân, cả Tiểu đội khẩn trương dọn sạch sẽ nơi ở, mắc tăng, võng để ngủ nghỉ; đào bếp Hoàng Cầm; xuống suối lấy nước, kiếm củi, củi bị ướt nấu mãi mới được bữa cơm ăn. Có hôm, nghỉ ở rừng tre nứa, lũ vắt bé như đầu tăm, dài khoảng 2 cm, lổm nhổm thi nhau hành quân cứ lao vào chân tay bộ đội hút máu. Chúng tôi phải dùng thuốc nước xoa vào tay chân chống muỗi, vắt. Thế mà, sáng hôm sau ngủ dậy, có đồng chí thấy cồm cộm ở bụng, mở áo ra thấy chú vắt béo tròn, mọng máu “nằm ngủ” vắt vẻo nơi rốn.
 
Hành quân trên dãy Trường Sơn, có đồng chí bị sốt rét, mệt mỏi. Đồng đội dù mang vác đã nặng, vẫn vui vẻ san sẻ tư trang mang hộ người bệnh. Có đồng chí sốt rét ác tính, phải kịp thời tiêm thuốc mới cứu được tính mạng, hoặc phải gửi lại Bệnh viện Binh trạm chữa trị, khỏi bệnh lại hành quân gấp đuổi theo đơn vị.
 
Hôm trú quân ở rừng nứa, có đồng chí bị rắn lục cắn vào gáy. Y tá đơn vị kịp thời cho thuốc uống và tiêm thuốc, cứu được tính mạng. Nhưng có một trường hợp rất thương tâm. Hôm đó, trên đường đi lấy gạo, một đồng chí nhìn thấy trên cây cao có tổ ong to, tưởng ong mật, trèo lên chọc cho tổ rơi xuống. Nào ngờ là ong vò vẽ. Vỡ tổ, lũ ong lao ra đốt túi bụi. Đồng đội dũng cảm bẻ cành cây lá lao vào chiến đấu với lũ ong cứu đồng chí ra và cấp tốc đưa tới Bệnh viện Binh trạm để cứu chữa. Nhưng tới sáng hôm sau, đồng chí không qua khỏi, vì nọc độc trong người quá nhiều.
 
Hành quân từ Đông sang Tây Trường Sơn, dọc theo biên giới nước bạn Lào và Căm Pu Chia, chúng tôi nghe tin chuẩn bị ký kết Hiệp định Pari. Trên đường hành quân, thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy từng tốp (3 chiếc) B52 nghiêng cánh ném bom hàng loạt. Tiếng nổ vang rền nghe rất gần. Có lẽ, chúng trút nốt mẻ bom cuối cùng để về nước cho nhẹ thân.
 
Ngày 27/01/1973, ký kết Hiệp định Pari.
 
Ngày 28/01/1973, chúng tôi hội quân ở Đức Cơ - Gia Lai. Tôi và một số đồng chí khác được biên chế về Đại đội 4 hỏa lực thuộc D7 E64 F320. Ấn tượng đầu tiên về đơn vị là tới trận địa gần sân bay dã chiến Đức Cơ vừa được giải phóng, chúng tôi được Chính trị viên đại đội Nguyễn Anh Tuấn từ căn hầm lên ra đón. Anh rất trẻ, rất thư sinh, chân đeo đôi dép Thái Lan. Tôi thầm nghĩ: “Chiến trường chiến đấu ác liệt thế, lại đi dép Thái Lan nhỉ?”. Chợt nhớ ra, đây là khoảng lặng hòa bình do Hiệp định Pari đem lại.
 
Tôi được giao khẩu súng máy (chiến lợi phẩm) của địch và được điều động phối thuộc với đơn vị bạn trực chiến. Phía xa kia là đồn bốt quân địch. Ba hôm sau, tôi bị trận sốt rét đầu tiên trong đời quân ngũ. Tôi được lui về tuyến sau và phải chuyển lên tận Bệnh viện B3 của Mặt trận Tây Nguyên để chữa trị. Cái lá lách của tôi cứ sa xuống độ 2, ấn tay vào khoang bụng là sờ thấy được (lá lách độ 3 không kéo lên được là thành bệnh binh, chuyển ra miền Bắc). Sau gần 2 tháng chữa trị, sức khỏe của tôi dần trở lại bình thường.
 
Về đơn vị, tôi được điều động làm pháo thủ Cối 82 ra trận địa trực chiến. Khoảng tháng 6/1973, tôi được giao chức trách Văn thư đại đội. Tôi và Chính trị viên Nguyễn Anh Tuấn ở chung nhà hầm, nằm chung giường đan bằng tre nứa.
 
Giai đoạn này là thời gian hòa hợp giữa hai bên theo Hiệp định Pari. Tại mặt trận Đức Cơ - Gia Lai, ở khoảng đất trống tiếp giáp giữa hai bên được dựng lên ngôi Nhà Hòa hợp. Hằng ngày, hai bên cử Tổ Hòa hợp ra đó nói chuyện, trao đổi, tuyên truyền… Sau mấy tháng, riêng ở mặt trận Gia Lai có hàng trăm lính Việt Nam cộng hòa ra hàng quân giải phóng. Quân đội Việt Nam cộng hòa hết sức rệu rã. Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam cộng hòa quyết tâm phá bỏ Hiệp định Pari. Chúng xua quân lấn chiếm đất của ta, tìm diệt quân giải phóng.
 
Tháng 9/1973, Bộ Chỉ huy quân giải phóng miền Nam ra mệnh lệnh chủ động tấn công địch. Sau mấy tháng tạm gọi “yên bình”, chiến tranh lại bùng nổ.
 
Lúc này, Đại đội 4 chúng tôi vừa trực chiến, vừa tích cực phát nương rẫy trồng sắn tự túc lương thực. Vào một ngày tháng 12/1973, một sự kiện đau lòng đã xảy ra. Khoảng 8 giờ tối, các tiểu đội, bộ phận của Đại đội đang họp, thì một trận pháo kích dữ dội bất thần ập xuống khu rừng đơn vị đóng quân. Chính trị viên Nguyễn Anh Tuấn không kịp vào hầm, đã bị mảnh pháo chém sượt qua đầu, máu ra nhiều, nửa thân mình bị tê dại. Đơn vị sơ cứu ban đầu và cấp tốc cáng đồng chí xuyên rừng trong đêm tối tới Bệnh viện tuyến trên. Bệnh viện cấp cứu tích cực, nhưng tới 4 giờ sáng hôm sau, đồng chí không qua khỏi, vì vết thương quá nặng. Cả đơn vị đau buồn một màu tang thương. Thương tiếc vị Chỉ huy mẫu mực, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội. Anh quê Thái Bình, con trai duy nhất của bộ đội (liệt sỹ) chống Pháp. Ở nhà chỉ có một mẹ già. Anh xung phong đi bộ đội vào Nam chiến đấu. Cuối năm 1973, anh chuẩn bị ra Bắc thuộc diện chính sách. Thế mà… anh vĩnh viễn nằm lại với núi rừng Tây Nguyên khi tuổi đời còn rất trẻ, mới 25 tuổi xuân. Tôi bần thần nhớ thương anh!
 
Ít lâu sau, tôi chủ động đề nghị Chỉ huy đại đội cho thôi chức trách Văn thư để xuống tiểu đội chiến đấu. Nguyện vọng của tôi được chấp thuận. Tôi được trở lại làm pháo thủ Cối 82 ra chốt trực chiến. Khoảng 1 tuần sau, lãnh đạo gọi về, cho tôi đi học lớp Quân khí trong 3 tháng do Sư đoàn 320 tổ chức tại khu rừng rậm rạp ở tuyến sau. Kết thúc khóa học, tôi được tham gia Tổ Quân khí do Trung đoàn 64 thành lập để đi kiểm tra vũ khí, trang bị của các đơn vị thuộc Trung đoàn, chuẩn bị cho các chiến dịch dài ngày. Chúng tôi bước vào những trận đánh.
 
Tiểu đội Cối 82 được lệnh cùng đơn vị bạn tiếp cận, đánh địch từ đồn Tầm, chốt Mỹ(Đức Cơ - Gia Lai) nống ra chiếm đất của ta và tìm diệt quân giải phóng. Khoảng 10 giờ đêm, chúng tôi đào hầm cho người và pháo bên cạnh căn hầm nhỏ của đơn vị bạn nhường cho. Tới 4 giờ sáng hầm được đào xong và ngụy trang. Theo kế hoạch, 5 giờ sáng nổ súng. Đợi mãi không thấy mệnh lệnh phát ra. Chúng tôi bắt đầu sốt ruột. Sau đó, có lệnh tạm dừng thời gian nổ súng. Dường như đêm qua, phát hiện có quân ta, chúng tạm lui về phía sau. Rừng cây rậm rạp, lúp xúp, chằng chịt dây leo, rất khó quan sát. Trinh sát ta lại phải bí mật bám sát, xác định vị trí địch.
 
Khoảng 6 giờ sáng, lệnh khai hỏa! Chúng tôi bắn cấp tập vào khu vực quân địch. Bộ binh ta nhất loạt xông lên. Tiếng súng AK của ta, AR15 của địch đồng loạt vang lên, tiếng lựu đạn nổ chát chúa, dữ dội… Bị đánh bất ngờ, địch bắn vãi đạn về phía quân ta và bỏ chạy. Lập tức, chúng gọi phi pháo bắn cấp tập vào trận địa ta làm một đồng chí hy sinh. Toàn đội hình tạm thời tìm nơi trú tránh đạn pháo. Cái hầm nhỏ của chúng tôi, bình thường chỉ chứa 2-3 người là chật, lúc này chứa tới 7 người (một số đồng chí đơn vị bạn lao xuống trú nhờ) cùng khẩu Cối 82 tạm thời tháo nòng đưa vào hầm tránh đạn pháo. Khoảng 1 tiếng sau pháo ngớt, chúng tôi lồm cồm bò ra khỏi hầm, chân tay tê dại vì mọi người phải gối chồng lên nhau lúc trú ẩn. Suốt buổi chiều, địch bắn pháo cầm canh. Được tin, bộ binh địch đã co cụm về đồn bốt của chúng. Khoảng 8 giờ tối hôm đó, Khẩu đội Cối 82 được lệnh rút về kiềng (nơi trú quân). Chúng tôi lên khỏi hầm mà không nhận ra quang cảnh xung quanh. Đạn pháo của địch phạt ngang cây gãy đổ ngổn ngang, dây dợ chằng chịt lấp hết lối đi. Khó khăn lắm, chúng tôi mới ra khỏi “ma trận” ấy. Sau 2 tiếng, chúng tôi mới tạm nghỉ ở một bản làng của đồng bào ta. Trăng cuối tuần đã lên quá đỉnh đầu. Núi rừng xanh thẫm, phết màu ánh bạc trên những tán lá dưới ánh trăng. Quá nửa đêm, chúng tôi mới về tới kiềng. Vừa đói, vừa mệt vì cả ngày chẳng ăn gì, chỉ uống vài hớp nước. Bây giờ mới lấy cơm nắm ra ăn… Một đêm ngủ yên bình sau trận đánh. Sáng hôm sau, cả khẩu đội ra suối cạnh nhà tắm, giặt, đùa nghịch như lũ trẻ sau hàng tuần liền không có thời gian tắm gội.
 
Cuối năm 1973, Sư đoàn 320 thực hiện cuộc hành quân chiến lược, rút khỏi Gia Lai xuống Đắc Lắc, chuẩn bị cho chiến dịch Buôn Ma Thuột. Cuộc hành quân bí mật và nghệ thuật nghi binh thần diệu của quân ta đã làm cho địch tưởng rằng, ta đánh lớn vào Pleiku, chứ không phải vào Buôn Ma Thuột.
 
Trung tuần tháng 3/1973, quân ta bất ngờ tấn công, tiêu diệt cứ điểm Đức Lập và các căn cứ tiền tiêu. Ngày 19/3/1973, quân ta đồng loạt tấn công và giải phóng hoàn toàn Thị xã Buôn Ma Thuột. Đại đội 4 chúng tôi cùng đơn vị bạn đánh chiếm và giải phóng Thị trấn Buôn Hồ, nằm ở phía bắc Buôn Ma Thuột.
 
Địch điều Lữ đoàn dù 173 thiện chiến ở Sài Gòn lên Tây Nguyên, thiết lập phòng tuyến trên đèo Phượng Hoàng hòng tái chiếm Buôn Ma Thuột. Ở Buôn Hồ, chúng cho 1 chiếc trực thăng chở một tốp lính, bay rất thấp, quần đảo quanh Thị trấn. Chiến sỹ Tài ở Khẩu đội súng máy phòng không 12 ly 7 của đại tôi tôi, thấy trực thăng bay thấp quá, liền nổ súng trúng đích. Chiếc trực thăng lảo đảo, rồi hạ cánh xuống sân một nhà thờ gần đó. Bộ đội ta vận động, tiếp cận, bao vây chiếc trực thăng. Một tốp lính Ngụy khoảng 6-7 tên từ trực thăng nhảy xuống, hoảng hốt, chạy thục mạng vào rừng cây cao su bên đường. Quân ta đuổi theo, bắt sống 2 tên. Những tên còn lại trốn thoát sâu vào rừng cao su bạt ngàn… Chúng bỏ lại một tên bị trúng đạn 12 ly 7 nằm chết ngay trên sàn trực thăng. Đến tối, tôi và 3 chiến sỹ nữa được điều động đi đào huyệt và chôn cất tên lính đó.
 
Chiến sỹ Tài, một mặt, phải kiểm điểm cá nhân vì tự ý nổ súng khi chưa có mệnh lệnh; mặt khác, được cấp trên biểu dương vì bắn trúng trực thăng địch.
 
Cuộc tái chiếm Buôn Ma Thuột của địch bị thất bại. Chúng càng lung túng, hoảng loạn và mắc sai lầm chiến lược. Chúng rút khỏi Tây Nguyên về lập tuyến phòng ngự ven biển và cửa ngõ Sài Gòn. Đại đội tôi cùng các đơn vị của Sư đoàn 320 tiêu diệt quân địch trên đường số 7 từ Thị xã Cheo Reo về Tuy Hòa - Phú Yên. Tây Nguyên và tỉnh Phú Yên hoàn toàn được giải phóng. Kết thúc thắng lợi chiến dịch Buôn Ma Thuột. 
 
Thời cơ chiến lược giải phóng miền Nam đã đến. Ngày 26/3/1975, Binh đoàn Tây Nguyên (Quân đoàn 3) được thành lập. Chúng tôi thần tốc hành quân vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày 29/4/1975, giải phóng Đồng Dù - Củ Chi, giải phóng Thị trấn Hoóc Môn, tiến quân về giải phóng Sài Gòn.
 
11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống Việt Nam cộng hòa Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tiến tới thống nhất đất nước.
 
Những ngày đầu hòa bình, tôi đóng quân ở Đồng Dù - Củ Chi. Ngày 01/01/1976, tôi được điều động lên công tác tại Phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu, Quân đoàn 3 đóng tại Thị xã Bình Dương.
 
Ngày 25/3/1976, tôi được Lãnh đạo Quân đoàn cho sang Trường Văn hóa Quân đoàn 3 học tập để thi vào Đại học. Tôi thi đỗ vào Trường Đại học Y khoa TP.Hồ Chí Minh. Cuối năm 1976, tôi ra quân và vào trường học. Do thi đạt điểm cao, đầu năm 1977, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp tuyển tôi đi đào tạo Đại học tại Liên Xô.
 
Tôi đã trải qua quá trình học tập và công tác chủ yếu như sau:
 
1978-1983: Cử nhân Tâm lý học, Trường Đại học Tổng hợp Tasken - Liên Xô.
 
1988-1991: Phó Tiến sĩ Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.
 
2002-8/2009: Tiến sĩ, Giám đốc kiêm Tổng Biên tập Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
 
8/2009-3/2013: Tiến sĩ, Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
 
Tôi được Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi nhận những thành tích và trao tặng những phần thưởng cao quý sau đây:
 
Huy chương Chiến sĩ giải phóng, năm 1975.
 
Huy chương Kháng chiến hạng Nhì, năm 1984.
 
Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2003.
 
Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Thông tin và Truyền thông, năm 2009.
 
Huân chương Lao động hạng Nhì, năm 2013.
 
Hà Nội, tháng 3 năm 2015.
 
Vi Quang Thọ
 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác