Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0963.53.88.39 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

"Chỉ cần trong xe có một trái tim"

Cập nhật lúc 08:56 22/08/2019

Trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại trong những năm kháng chiến chống Mỹ, từng đoàn xe dù “Không có kính rồi xe không có đèn/Không có mui xe, thùng xe có xước” (Phạm Tiến Duật) nhưng vẫn “…nối dài vô tận” bất kể ngày đêm, bất kể mưa bom bão đạn, chi viện cho chiến trường miền Nam. Bởi trong mỗi chiếc xe ấy “có một trái tim” (Phạm Tiến Duật) của tình yêu thương, lòng căm thù, của ý chí: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” để làm nên Mùa Xuân đại thắng 1975

Năm 2007, nhà thơ Phạm Tiến Duật mất. Khi giảng Bài thơ về tiểu đội xe không kính của ông, tôi bùi ngùi nói với học sinh: “Các em ạ, nhà thơ Phạm Tiến Duật, người được ví như "con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại", "cây săng lẻ của rừng già”, ngọn gió của đại ngàn Trường Sơn”. Giờ đây ngọn gió ấy đã ngừng thổi.” Cả lớp lặng yên lắng nghe trong niềm xúc động khi tôi đưa các em về với những tháng ngày lớp lớp thanh niên: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, sống lại những ngày gian khổ ác liệt của người lính thời kì chống Mỹ trong những câu thơ đậm chất văn xuôi của ông: “Không có kính rồi xe không có đèn/Không có mui xe, thùng xe có xước” nhưng: “..xe vẫn chạy..” trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Lúc đó, tôi không nghĩ rằng có ngày được vinh hạnh ngồi nói chuyện với một trong những người chiến binh quả cảm của “Tiểu đội xe không kính” trong "Tiểu đoàn Đại bàng xanh". Nhân vật được mệnh danh "Con chim đầu đàn”, nguyên mẫu để nhà thơ Phạm Tiến Duật khắc họa trong bài thơ nổi tiếng, người được chủ tịch nước Tôn Đức Thắng trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang là anh Đỗ Văn Chiến. Với chất giọng trầm ấm, hào sảng, anh kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng dầm mưa dãi nắng trên cung đường bão lửa Trường Sơn.

Đỗ Văn Chiến sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo tại giáo xứ Liên Phú (Hải Đông, Hải Hậu, Nam Định). Học hết lớp 6, do hoàn cảnh gia đình, anh phải nghỉ học. Từ đó, cậu thiếu nên ham học hàng ngày làm bạn với con trâu, với công việc bận rộn, vất vả của nhà nông. Lớn chút nữa, anh tham gia đội du kích xã. Hơn nửa thế kỉ trôi qua, cho đến giờ trong anh vẫn in đậm kỉ niệm về trận bắn rơi máy bay AD-6 Mỹ của du kích xã Hải Đông mà có công sức anh góp phần. Là một xã ở vùng chân sóng, trong những năm tháng chiến tranh, Hải Đông là nơi máy bay Mỹ trút những quả bom cuối cùng, sau khi oanh tạc chán chê rồi bay về các hạm đội ở ngoài khơi. Vừa tham gia du kích, anh vừa làm thư kí đội sản xuất, rồi thư kí trại chăn nuôi. Năm 1966, chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lan rộng ra miền Bắc, anh xung phong lên đường chiến đấu. Anh được phân vào học tại trường đào tạo lái xe ở Sơn Tây. Tháng 6/1967, ngày nghe tin vợ sinh đứa con đầu lòng cũng là ngày anh lên đường vào chiến trường và được bổ sung vào trung đoàn ô tô vận tải 13 được mệnh danh là “quả đấm thép Trường Sơn” ngay từ những ngày mới thành lập. Bắt đầu từ đây, những gian khổ, khó khăn nhưng cũng oai hùng đến với người lính trẻ kính Chúa, yêu nước.

Địa điểm đóng quân của đơn vị anh gần trọng điểm Seng Phan với địa thế vô cùng hiểm trở, hai bên vách đá dựng đứng. Giặc Mỹ coi đây là yết hầu trên đường mòn Hồ Chí Minh nên bằng mọi giá chúng quyết ngăn chặn từng chuyến hàng của ta. Trên trời, máy bay thám sát OV-10 hoặc L.19 vè vè ngày đêm không khi nào ngớt. Sà thấp xuống từng ngọn cây, lượn qua, lượn lại những nơi nghi là mục tiêu, nó phóng ngay pháo khói. Một cột khói màu phụt lên hàng chục mét sẽ là tọa độ hứng đủ các loại bom trong chớp mắt. Không những thế máy bay AC-130 được lắp máy ngắm bằng tia hồng ngoại, có thể phát hiện  xe của ta bất cứ lúc nào. Vì thế, trên cung đường này, có biết bao chuyện xảy ra như huyền thoại với người lái xe anh hùng Đỗ Văn Chiến.

 Mùa khô năm 1968. Một buổi tối, đơn vị anh nhận lệnh: “Nhận hàng ở binh trạm 12”. Tất cả hối hả lên đường. Vẫn chi chít, nham nhở hố bom với suối sâu, vực thẳm, núi cao. Không quan sát kĩ, xe có thể lao xuống vực bất cứ lúc nào. Đoàn xe lầm lũi đi. Những hòm đạn chuyển lên thùng xe như giành giật từng giây, từng phút yên tĩnh trước trận đánh để nhanh chóng đến tay đồng đội, dội sấm sét xuống đầu kẻ thù. Công việc xong xuôi, cả đoàn xe quay ra đường 128. Niềm vui trào lên trong lòng những người lính. Hiếm có những chuyến hàng nào chót lọt, yên bình như thế. Chỉ mấy tiếng nữa, xe sẽ về đến nơi tập kết an toàn.

Bất chợt, cả không gian rung chuyển trong tiếng gầm rú của máy bay. Tiếng bom nổ đinh tai, nhức óc. Bỗng “ục”. Một quả bom bi phát nổ phía trước. Chiếc xe ngả nghiêng, chao đảo như đưa võng. Tiếng người phụ xe thảng thốt: “Em bị thương rồi, anh ơi.” Căng mắt, nghiến răng, vừa xoay tay lái cho xe nghiêng về bên phải hố bom sâu hoắm trên mặt đường, anh vừa nói đứt quãng: “Cố lên, Diếp ơi”. Chợt cơn đau dữ dội ập đến. Vô lăng trơn tuột, nhầy nhụa khiến anh không điều khiển nổi xe. Mắt anh chợt hoa lên. Máu. Máu thấm ướt bàn tay phải, thấm đẫm vô lăng. Trong ánh sáng mờ ảo của đèn dưới gầm xe, anh thấy đốt ngón tay áp ngón trỏ rủ xuống, lủng lẳng trước mắt, nối với đốt còn lại bằng một mảnh da. Anh nghiến răng. Không! Không thể dừng lại. Bằng mọi cách phải cho xe vượt qua trọng điểm càng nhanh càng tốt. Nếu không, cả đoàn xe sẽ dồn ứ lại. Bao nhiêu mồ hôi, công sức, cả tính mạng anh em sẽ là miếng mồi ngon cho lưới lửa của giặc trùm xuống. Anh dừng xe trong giây phút, chìa tay cho người phụ lái: “Cậu giật đứt ngón tay rồi khẩn trương buộc chặt lại.” Mỗi lời nói, hành động của anh lúc này như mệnh lệnh. Lát sau, chiếc xe lại lầm lũi lao đi như  chưa hề có chuyện gì sảy ra.

Nửa tháng sau, vừa ở Trạm phẫu thuật về, anh nhận được kế hoạch: Ra Bắc nhận xe mới để chuẩn bị cho chiến dịch năm sau. Về Bắc là hy vọng được về nhà đang đến rất gần, bởi có nhiều người bao năm rồi không được nghỉ phép. Lặng yên trầm ngâm, lát sau anh lên Ban chỉ huy xin ở lại. Người chỉ huy nắm chặt tay anh: “Hoan nghênh tinh thần của đồng chí. Chúng ta cùng chia lửa với anh em”

Hàng ngày, được tôi luyện trong bom đạn, anh nắm rõ những hành động gần như là qui luật của máy bay Mỹ. Một lần, đoàn xe của anh chở hàng đến gần trọng điểm phải dừng lại. Bom đạn dội xuống biến nơi đây thành bãi đá hoang tàn. Cả đoàn xe tập kết ở dốc 75. Xe của anh dẫn đầu. Đất trời im lặng. Lệnh của Tiểu đoàn trưởng: “Tiếp tục lên đường”. Đỗ Văn Chiến lên tiếng: “Thưa đồng chí, theo tôi, ta không nên đi vào lúc này.” “Tại sao đồng chí lại chống lệnh?” “Thưa Thủ trưởng, tôi không chống lệnh. Nhưng sau 19 giờ, dù Thủ trưởng không ra lệnh chúng tôi cũng đi”. Cả đoàn xe lặng phắc. Đúng 19 giờ, hàng đàn máy bay Mỹ ào đến trút bom rồi cút thẳng. 23 giờ, công binh thông báo: Thông đường. Hôm sau, đích thân Chính ủy binh trạm tới, khen ngợi và tặng cho anh chiếc đồng hồ Poljot. Một phần thưởng xứng đáng cho người chiến binh dạn dầy bom đạn nhưng cũng đầy bản lĩnh.

Một đêm không trăng. Đoàn xe của anh qua Seng Phan, chuẩn bị vượt ngầm 51A. Phía trước, bom bi, bom Napan chùi chũi lao xuống. Đỗ Văn Chiến mở cửa xe nhảy xuống. Bất chợt phía bên trái lửa cháy rực lên: “Cháy xe rồi”. Anh thầm kêu trong sự xót xa. Chạy được vài bước, anh dừng lại. Không! Không thế để chiếc xe cháy lan sang xe khác, lan cả sang cả đoàn xe phía sau mới đưa từ miền Bắc vào. Đó sẽ là mục tiêu lộ liễu cho bầy quạ sắt đang hung hãn gầm rú trút bom. Không chần chừ, anh quay ngược lại, đến bên chiếc xe cháy, nhảy lên, đập tan cửa kính, lao vào. Chiếc xe rừng rực như một bó đuốc lao đi trong đêm, thu hút sự chú ý của giặc. Lửa cháy lan sang buồng lái, táp vào mặt anh bỏng rát. Chiếc xe có thể nổ tung trong vài giây phút nữa. Nhưng  anh vẫn bám chặt vô lăng cho xe chạy...

Đưa xe đến vị trí an toàn, anh bung cửa, lao ra ngoài. Vẫn còn chiếc xe có nguy cơ bốc cháy bởi ngọn lửa tử thần từ những mảnh bom Napan trên mặt đất có thể bén vào xe bất cứ lúc nào. Anh nhảy lên chiếc xe nổ máy vượt qua những đám cháy tiếp tục lao đi. Quay trở ra, anh đến bên xe của mình. Dưới tay lái điêu luyện của anh, chiếc xe luồn lách qua những vệt lửa ma quái trên đường. Lúc này, tiếng máy bay nhỏ dần, nhỏ dần rồi im lặng. Không gian im ắng nhường chỗ cho màn đêm. Đoàn xe hối hả lên đường.

                                                  (còn nữa)

Phạm Hồng Loan

 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác

Danh sách liệt sĩ đã quy tập

  Tên chiến sĩ Quê quán
1 Nguyễn Xương Thái Bình
2 Nguyễn Văn Tuy Thái Bình
3 Phạm Văn Tuấn Thái Bình
4 Vũ Văn Tiến Thái Bình
5 Tèo Thái Bình