Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0943.857.078 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử: Sư đoàn 2 đặc công ở mặt trận phía Đông

Cập nhật lúc 15:09 09/04/2019

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh tiến về giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975), bên cạnh 5 cánh quân chủ lực Quân giải phóng có một cánh quân mà đóng góp cũng hết sức quan trọng cho ngày toàn thắng của dân tộc. Nguyên Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, Chính ủy Sư đoàn 2 đặc công trong chiến dịch Hồ Chí Minh ở mặt trận phía Đông, Đại tá Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước viết về lịch sử truyền thống và những đóng góp của đơn vị. Tạp chí điện tử Tri Ân trân trọng giới thiệu bài viêt này.

Bài 1: Chuẩn bị cho chiến dịch
Chiến tranh đã đi qua 40 năm, nhưng mỗi lần đến ngày 30-4 lại sống dậy trong ký ức chúng tôi những kỷ niệm cùng đồng đội sôi nổi, hào hùng, thần tốc lao vào quyết chiến điểm Sài Gòn - Gia Định.
Tôi ghi lại trang sử chiến đấu của Sư đoàn 2 đặc công, biệt động ở mặt trận hướng Đông trong chiến dịch Hồ Chí Minh để bày tỏ tấm lòng tri ân, thương nhớ các vị tướng lĩnh tài ba, đã trực tiếp chỉ huy, tin tưởng và ra lệnh cho chúng tôi triển khai lực lượng, thọc sâu, đánh chiếm, giữ cửa mở cho các Quân đoàn tiến vào Dinh Độc Lập và theo thời gian, các anh đã tuần tự ra đi trong tuổi già sức yếu như: cố Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam; cố Đại tướng Lê Trọng Tấn, nguyên Phó tổng tham mưu trưởng; cố Thượng tướng Hoàng Cầm, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4; cố Thượng tướng Hữu An, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 2…
Lực lượng đặc công tuy chính thức được công nhận là một Binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam vào ngày 19-3-1967, nhưng khởi điểm là từ trận đánh cầu Bà Kiên (Tân Uyên, Biên Hòa, Đồng Nai) vào năm 1948. Vì nghèo súng đạn nên để phá sập lô cốt địch, du kích đã bắt thang tre đặt sát tường, bí mật cận tập leo lên thả lựu đạn, với mã tấu lao vào diệt địch thu súng đạn... Cách đánh sáng tạo, táo bạo đó đã lan tỏa ra khắp Chiến khu Đ và cả miền Đông, diệt hàng trăm đồn bót theo hệ thống phòng thủ Đờ La-Tua của giặc Pháp. Rồi sau này hình thành những đơn vị đặc công nằm trong đội hình trung đoàn, sư đoàn lập nên những chiến công vang dội khắp các chiến trường từ đánh Pháp đến đánh Mỹ.
Cho đến năm 1974, do yêu cầu của nhiệm vụ tác chiến ngày càng cao trong chiến tranh cục bộ với Mỹ - ngụy, bằng xương máu kinh nghiệm được tích lũy, binh chủng đặc công đã nhanh chóng trưởng thành và hình thành thêm nhiều trung đoàn thiện chiến. Tháng 4-1974, Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam đã tổ chức lại thành Sư đoàn 2 đặc công, do các anh Nguyễn Văn Mây, Sư đoàn trưởng; Lê Bá Ước, Chính ủy; Tống Viết Dương, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Minh Dũng, Sư đoàn phó. Đội hình gồm có 7 Trung đoàn (e10, e113, e115, e116, e117, e119, e429) và 3 cơ quan tham chính hậu, cùng với các đơn vị trực thuộc được tổ chức trang bị đầy đủ, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Sư đoàn tác chiến trong trong mọi tình huống, mọi điều kiện khác nhau, đánh theo mệnh lệnh, đánh trong hiệp đồng quân binh chủng, đánh không cần chuẩn bị trước, không lệ thuộc vào trăng sáng tối hay thủy triều lên xuống...
Chúng tôi được quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương là tất cả lực lượng vũ trang cùng toàn Đảng bộ miền Nam tiếp tục tích cực tiến công Mỹ - ngụy, trong tình hình chúng đang ra sức phá hoại hiệp định đình chiến, tung lực lượng Phượng Hoàng thám báo thực hành các chiến dịch: Bình định cấp tốc, Bình định đặc biệt, thực hiện chiến thuật phân chi khu nhỏ… nhằm làm tê liệt cơ sở cách mạng, đẩy dạt lực lượng vũ trang ra xa, phá nát địa bàn để sau khi Mỹ hoàn thành việc rút quân thì ngụy quyền Sài Gòn vẫn vững mạnh.

Sau Đại hội Đảng bộ Sư đoàn 2 đặc công, chúng tôi đã quán triệt chỉ đạo của cấp trên với phương châm hoạt động và mục tiêu phải đạt bằng các nghị quyết: “Sư đoàn 2 phải lấy vùng ven là nhà, kho tàng bến cảng, sân bay là trận địa, Sài Gòn - Gia Định là quyết chiến điểm”, nhanh chóng thọc sâu 1 trung đoàn xuống Vườn thơm Bà Vụ và Lộ 24; 2 trung đoàn từ Bari Tân Quy cập sông Sài Gòn áp xuống vùng ven xa lộ Đại hàn; 3 trung đoàn bám chặt cánh Đông gồm kho Long Bình, sân bay Biên Hòa, căn cứ Nước Trong, Trường Thiết Giáp, hậu cứ Quân đoàn 3 ngụy, sông Lòng Tàu…; e429 cơ động phối thuộc với các sư đoàn chủ lực. Nhiệm vụ cụ thể trên giao: phải phá hủy 20 cầu xung quanh Sài Gòn - Gia Định, đánh liên tục mở mảng, mở vùng, hỗ trợ cho lực lượng cơ sở bám trụ trưởng thành, tạo điều kiện cho tổng công kích tổng khởi nghĩa kết thúc thắng lợi sau 2 năm 1974 - 1975.
Trong khí thế hừng hực lửa tiến công đó, Sư đoàn đặc công 2 đã đánh liên tục. Tổng kết trong năm 1974, Sư đoàn đã đánh gần 500 trận lớn nhỏ, như ở cánh Đông ngày 8-4, e116 đánh chiếm Trường sĩ quan Thiết giáp, bắn phá trại biệt kích Yên Thế, Lôi Hổ, căn cứ Long Bình; e113 đánh kho bom Bình Ý, pháo kích đạn DKB, cối 82 vào sân bay Biên Hòa; e10 bám chặt sông Lòng Tàu, bằng lối đánh của pháo đặc công đã bắn liên tục DKB vào trung tâm Sài Gòn; e113 đánh sập cầu Hòa An, cầu Thủ Dầu Một (trong 20 cầu chỉ tiêu được phân công).
Ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị, sau khi đánh giá thắng lợi đã đạt được và phân tích tình hình một cách toàn diện khoa học đã hạ quyết tâm: “Nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, chắc thắng thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất trong tháng 4-1975, không thể để chậm trễ”. Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ chiến dịch của đặc công là: Đánh chiếm, chốt giữ 14 chiếc cầu và một số căn cứ địch áng giữ đường vào Sài Gòn, Vũng Tàu, tạo thuận lợi cho binh chủng hợp thành thần tốc tiến vào Sài Gòn. Bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất, vít chặt sông Lòng Tàu, đánh chiếm một số mục tiêu quan trọng bên trong kết hợp với chủ lực tiến công từ ngoài vào hỗ trợ quần chúng nổi dậy ở một số khu vực nội đô.
Ngày 8-4-1975, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thống nhất lực lượng đặc công tham gia chiến dịch gồm có Sư đoàn 2, Lữ đoàn 316 biệt động, Thành đội Sài Gòn - Gia Định… đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Miền bố trí trên 3 hướng:
1. Hướng Đông: gồm e113, e10, e116 Sư đoàn 2, D81 và các Z: 22, 23, 24 Lữ đoàn 316, d4 đặc công Thủ Đức, đồng chí Tống Viết Dương được cử làm Tư lệnh, đồng chí Lê Bá Ước được cử làm Chính ủy.
2. Hướng Bắc: có e119 và e115 Sư đoàn 2, các d: 80, 83, các Z: 20, 28, 31 32 Lữ đoàn 316, e198 Tây nguyên, đồng chí Nguyễn Thanh Tùng (10 Cơ) được cử làm Tư lệnh, đồng chí Tư Được làm Chính ủy.
3. Hướng Tây: có e117, e429 Sư đoàn 2, d82 và các Z: 25, 26, 30 Lữ đoàn 316, đồng chí Nguyễn Văn Mây được cử làm Tư lệnh, đồng chí Bảy Dũng làm Chính ủy.
Kỳ tới: Nhận mệnh lệnh và triển khai kế hoạch.

http://www.laodongdongnai.vn.

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác