Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Chiến thắng Khe Sanh được coi là trận Điện Biên Phủ thứ hai

Cập nhật lúc 14:39 10/07/2018

Chiến thắng Khe Sanh đã đi vào lịch sử như những trang sử vẻ vang: Bạch Đằng, Chi Lăng, Sương Giang, Ngọc Hồi, Đống Đa, Điện Biên Phủ... tạo đà cho những thắng lợi quyết định về sau. Chiến thắng Khe Sanh cộng với thắng lợi của cuộc tổng tiến công nổi dậy Mậu Thân 1968 đã thay đổi cục diện chiến trường, thay đổi tình thế Cách mạng làm cho làn sóng phản chiến dâng cao trong nội bộ nước Mĩ, buộc phải đàm phán hội nghị Paris, kết thúc chiến lược "Chiến tranh cục bộ"....

Chiến dịch Khe Sanh được tiến hành theo 4 đợt chiến đấu liên tục và quyết liệt:

Ngày 21-1: Mặt trận Khe Sanh mở đầu bằng trận tiến công tiêu diệt chi khu quân sự Hưng Hóa. Ngày 7-2, quân ta lại diệt cứ điểm Làng Vây. Từ ngày 8-2 đến ngày 31-3, quân giải phóng vây hãm cụm cứ điểm Tà Cơn. Tháng 4 quân giải phóng lại đánh bại “cuộc hành quân Ngựa bay” hòng cứu nguy đồng bọn đang bị vây hãm ở Khe Sanh. Trong trận đánh ở đồi 595 ngày 6 và 7-4, năm chiến sĩ giải phóng đã đánh thắng 4 đại đội Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên, bắn rơi và bắn hỏng 3 máy bay. Từ tháng 5 đến tháng 9, quân dân tiếp tục vây hãm bọn lính thủy đánh bộ Mỹ ở Khe Sanh. Bị thiệt hại nặng nề, trước tình thế bị bao vây, cô lập, bắt đầu từ ngày 26-6, giặc Mỹ đã buộc phải rút bỏ Khe Sanh. Ngày 9-7, quân ta đã chiếm Tà Cơn, vị trí trung tâm của căn cứ Khe Sanh.

Sau 170 ngày đêm chiến đấu liên tục và vô cùng anh dũng, quân giải phóng mặt trận Khe Sanh đã chiến thắng oanh liệt, buộc Mỹ phải chịu thất thủ Khe Sanh. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 17.000 tên địch, trong đó có 1.300 tên Mỹ; bắt sống hàng trăm tên khác; tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn Mỹ, 1 chiến đoàn dù và tiểu đoàn thuộc lực lượng đặt biệt ngụy, 39 đại đội Mỹ - ngụy; bắn rơi và phá hủy 480 máy bay các loại, phá hủy hàng trăm xe quân sự, hơn 60 khẩu pháo, phá hủy hơn 50 kho xăng, đạn, thu hàng ngàn súng các loại, hàng trăm tấn lương thực.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cuộc thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh của quân, dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của toàn dân miền Nam từ đầu xuân đến nay. Cùng với những thắng lợi to lớn của ta ở các chiến trường khác, nó mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa”.
----------
Sở dĩ Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh được mệnh danh là "Trận Điện Biên Phủ thứ hai" vì giữa hai trận đánh này có những điểm tương đồng:

Về địa lý, Khe Sanh và Điện Biên Phủ đều có địa hình hiểm trở, giáp biên giới Lào. Vị trí này có lợi cho quân Mỹ vì chiếm được các điểm cao và việc tiếp viện, chuyển quân đến đây theo đường bộ đều cực kỳ khó khăn, trong khi Mỹ có sức mạnh tuyệt đối về đường không..

Về tính chất của cả hai trận đánh lúc bấy giờ đã trở thành tâm điểm chú ý của báo chí và các cơ quan công luận khác. Đối với quân địch cả hai trận đều có bài học giống nhau, đó là sự thất bại.

Sau khi rút bỏ Khe Sanh, tưởng như mọi việc đã xong, nhưng rồi Nhà Trắng lại chao đảo lần nữa vì Khe Sanh. Ngày 24 tháng 6, phóng viên John Carol của tờ Mặt trời Baltimore đã loan tin Bộ chỉ huy Mỹ “vừa buộc phải rút bỏ Khe Sanh, một căn cứ quân sự được (Mỹ) phòng thủ với một giá đắt, do vị trí rào cản có tính sống còn của nó ở dưới khu giới tuyến”. Bộ chỉ huy Mỹ mập mờ phủ định tin này, nhưng John Carol khẳng định “Các thủy quân lục chiến biết việc này, người Bắc Việt Nam biết việc này, chỉ có nhân dân Mỹ là không biết. Mặc dù Bộ chỉ huy Mỹ giải thích việc này (bỏ Khe Sanh) là do những yêu cầu về quân sự đặt ra, nhưng miền Bắc cho đây là thất bại nghiêm trọng nhất cả về chiến thuật lẫn chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh này”.

Theo báo cáo dành cho tổng thống 25 và 26 tháng 6 năm 1968, các cố vấn tổng thống đã phải nhanh chóng ra tay. Một là, họ thuyết phục hãng tin Mỹ tầm cỡ toàn cầu AP đừng đưa tin của Mặt trời Baltimore. Hai là, họ đã dự thảo để MACV ra một tuyên cáo. Cốt lõi cho tuyên cáo này là, quân Mỹ phải bỏ Khe Sanh chỉ vì “do địch đã thay đổi chiến thuật”. Mặt khác, chính phủ Mỹ công bố thương vong của họ chỉ là 205 chết và 443 bị thương. Nghiên cứu của giới sử học Mỹ sau này đã chỉ ra nhiều thiếu sót có chủ ý trong việc tính toán thương vong khi đó, và con số thực tế cao hơn thế gấp khoảng 11 lần, sánh ngang với những trận đánh khốc liệt trong Chiến tranh Thái Bình Dương. Trong bối cảnh nước Mỹ đang chấn động vì cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, nếu con số thực bị lộ thì chẳng khác nào việc "đổ thêm dầu vào lửa" với những hậu quả lớn không thể lường trước.

Tác động của Mỹ rút bỏ Khe Sanh đối với công luận được Peter Bush đánh giá như sau: “Tướng Abrams ra lệnh giữ bí mật chuyện đóng cửa căn cứ càng lâu càng tốt. Đến khi chuyện này buộc phải công bố chính thức, chỉ một lượng thông tin nhỏ được cung cấp. Sự kiện bỏ Khe Sanh được công luận Mỹ nhìn nhận một cách “đầy ngờ vực và hoang mang”. Lầu Năm Góc ghi nhận việc công bố quyết định bỏ Khe Sanh là “một sứ mạng khó khăn về phương diện tuyên truyền”. Chỉ trước đó 4 tháng, Tổng thống Mỹ là Johnson đã từng tuyên bố "sẽ giữ Khe Sanh bằng mọi giá" rồi 2 tháng trước, chính phủ Mỹ đã tuyên bố "chiến thắng" và "Khe Sanh đã được giải vây". Nay việc "lặng lẽ rút lui" đã bị lộ, đó sẽ là một đòn mạnh giáng vào uy tín của quân đội Mỹ, cũng như làm phong trào phản chiến càng dâng cao.

Ngày 7 tháng 7, tờ Thời báo New York đưa tin từ Hồng Kông cho biết: 70% người châu Á tin rằng lý do Mỹ phải bỏ Khe Sanh là bởi họ đã bị đối phương đánh bại, và bác bỏ cách giải thích của Mỹ, theo đó việc bỏ Khe Sanh là do “tình hình về quân sự đã có sự thay đổi" chỉ là vớt vát thể diện..

Dù nhiều đơn vị bị thiệt hại nặng, quân Mỹ không bị tiêu diệt hoặc bắt sống toàn bộ như Pháp ở Điện Biên Phủ vì đã kịp tháo chạy - Song cái giá phải trả là không hề rẻ, với gần 7.500 binh sỹ Mỹ và đồng minh thương vong chỉ trong 77 ngày (chưa kể thương vong trong 3 tháng sau đó), quân đồn trú tại Khe Sanh mất gần 1/2 quân số. Tỉ lệ thương vong này của lính Mỹ còn cao hơn trong Thế chiến thứ hai..

Cái giá quá đắt này khiến nhân dân Mỹ cảm thấy tức giận. Hãng Reuter bình luận: "Khe Sanh được ghi vào lịch sử cuộc chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam như một nơi phải trả với giá đắt nhất bằng máu...”.

Một số hình ảnh chuẩn bị cho chiến dịch "Ngựa bay" và sự thất thủ, hoang mang bỏ chạy khỏi căn cứ Khe Sanh của đế quốc Mỹ xâm lược.

Cùng với tác động của chiến dịch Tết Mậu Thân, nhân dân Mỹ yêu cầu rút quân Mỹ về nước. Do đó, dù các tướng lĩnh Mỹ muốn tiếp tục bám trụ và thậm chí mở rộng căn cứ sang Lào, câu trả lời của Quốc hội là "Không". Cuối cùng, số phận của căn cứ được định đoạt khi các chính trị gia Mỹ không muốn đánh cược vận mệnh của hàng nghìn lính Mỹ một lần nữa, bởi nó sẽ dẫn tới một thảm họa chiến lược như trận Điện Biên Phủ đã gây ra cho Pháp. Họ quyết định phá hủy và rút khỏi Khe Sanh, chấm dứt vai trò chiến lược của nó. Mỹ mở Chiến dịch Scotland II tổ chức cho lính Mỹ rút khỏi Khe Sanh khi đó vẫn còn bị vây lỏng bởi 2 sư đoàn QĐNDVN. Quân Mĩ tiếp tục bị truy kích trên đường rút lui.

Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ phải chịu nhục nhã khi hoảng loạn tháo chạy mà bỏ lại xác đồng đội, điều cấm kỵ lớn nhất và cũng là danh dự lớn nhất của lực lượng này (việc này lại xảy ra lần nữa vào năm 1975 tại sân bay Tân Sơn Nhất)".

FB Le Dung Anh

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác