Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Chuyện về chiếc cầu phao

Cập nhật lúc 23:38 01/06/2020

(ĐTTA) - Nhân kỷ niệm 37 năm quân và dân Phú Yên phối hợp với Sư đoàn 320 chủ lực, tấn công tiêu diệt làm tan rã và bắt sống toàn bộ cánh quân địch rút lui từ Tây Nguyên theo đường 7, vượt sông Ba sang Đường 5 về Phú Lâm – Đông tác, góp phần đẩy nhanh cuộc tiến công nổi dậy giải phóng tỉnh Phú Yên.

Chuyện về Chiếc cầu phao bắc qua sông Ba để đưa phương tiện và lực lượng của cánh quân Tây nguyên rút lui theo đường số 7 đến đoạn cuối bắc cầu phao để vượt sang đường 5 là một quyết định táo bạo, bất ngờ của tướng lĩnh ngụy quyền Sài Gòn đã dẫn đến thất bại thảm hại.
 
Ngày 10 tháng 3 năm 1975, thị xã Buôn Ma Thuột bị tấn công bất ngờ, bị thất thủ nên ngày 12, 13 tháng 3 năm 1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh quân đoàn 2 – quân khu II điều động 2 trung đoàn 44 và 45 thuộc sư đoàn 23 ngụy được không quân yểm trợ đổ bộ xuống Phước An, phản kích hòng đánh chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột, nhưng bị ta tấn công tiêu diệt, chiến trường Tây nguyên bị cô lập, buộc tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nghĩ đến phương án bỏ Tây nguyên, đưa lực lượng về giữ đồng bằng ven biển.
 
Theo lời tường trình của Chuẩn tướng Phạm Duy Tất – Chỉ huy trưởng biệt động quân, tại cuộc họp ngày 14/3/1975 do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm – Thủ tướng, Cao Văn Viên – Tổng tham mưu trưởng, Đặng Văn Quang – phụ trách an ninh của Tổng thống bay ra Cam Ranh để chủ trì cuộc họp.
 
Tại Tây nguyên, Thiếu tướng Phạm Văn Phú – Tư lệnh quân đoàn 2, quân khu II đang tìm cách củng cố lực lượng sau thất bại thảm hại của cuộc phản kích, thì nhận được lệnh về ngay Cam Ranh để gặp Tổng thống, đi cùng Tướng Phú có Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang – sư đoàn trưởng Sư đoàn không quân số 6.
 
Tại hội nghị: Phạm Văn Phú trình bày tình hình chiến sự đang xảy ra tại Tây Nguyên và khẳng định: “Nếu rút khỏi Tây nguyên năm nay thì cuộc tấn công khác của Cộng sản có thể vào năm tới, sẽ mất Duyên hải và mất nước”. Ông ta còn nhấn mạnh 4 sư đoàn quân giải phóng đang tỏa khắp vùng Pleiku và Buôn Ma Thuột, mọi đường đi ra biển đều bị cắt, rồi Phú đề nghị: Yểm trợ không quân tối đa, được tiếp tế đầy đủ, được bổ sung quân số bù đắp những thiệt hại nặng vừa qua. Sau khi nghe Phú trình bày, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lắc đầu: không có gì hết, không  có thiết bị để cung cấp cho anh, quân đội đang bị phân tán một cách nguy hiểm ra khắp đất nước, cho nên phải rút khỏi 2 tỉnh Kontum và Pleiku để bảo tồn lực lượng, lấy quân đưa về giữa đồng bằng ven biển tiếp tế thuận lợi hơn và từ đó phản công lấy lại Buôn Ma Thuột và Tây nguyên. Cả cuộc họp không ai có ý kiến gì? Vấn đề còn lại là bàn phương án rút lui như thế nào cho an toàn.
 
Tướng Cao Văn Viên nói: chỉ còn lại duy nhất tuyến đường số 7, một con đường cũ kỹ đi về phía Đông qua tỉnh Phú Bổn từ lâu đã bỏ không, tuy không được tốt nhưng lực lượng công binh có thể hoàn thành sửa chữa nhanh chóng, đồng thời rút theo đường số 7 sẽ tạo được yếu tố bất ngờ đối với đối phương, đến đoạn cuối đường 7 bắc cầu phao vượt sông Ba sang đường 5 về Phú Lâm – Đông Tác an toàn hơn, Cao Văn Viên giao toàn quyền quyết định về thời gian, tổ chức lực lượng và kế hoạch rút quân cho Phạm Văn Phú.
 
Phạm Văn Phú bay về Pleiku triệu tập cuộc họp ngay trong đêm để phổ biến ý định của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Cuộc họp gồm: Phạm Ngọc Sang, Trần Văn Cẩn, Phạm Duy Tất, Đại tá Lê Khắc Lý – Tham mưu trưởng Quân đoàn II do Phạm Văn Phú chủ trì, Phú phổ biến quyết định rút khỏi Tây nguyên của Tổng thống Thiệu, gây bất ngờ cho những người dự họp, Phú giao cho Trần Văn Cẩn soạn thảo kế hoạch hành quân, Phú nhấn mạnh tuyệt đối giữ bí mật và giao cho Phạm Duy Tất – Tư lệnh biệt động quân chỉ huy hành quân, đại tá Lê Khắc Lý được giao điều động lực lượng công binh bắc cầu phao vượt sông Ba sang đường 5 để tránh đoạn cuối đường 7 và Phú bay từ Đông Tác về Nha Trang ngay trong đêm.
 
Như vậy, theo tường trình của Chuẩn tướng Phạm Duy Tất và các tài liệu của địch để lại, trong kế hoạch rút lui theo đường số 7 đều có kế hoạch vượt sông Ba sang đường 5 về Phú Lâm – Đông Tác, được Cao Văn Viên – Tổng tham mưu trưởng vạch ra ngay từ đầu. Để đảm bảo cho kế hoạch, Phú điều động phương tiện bắc cầu phao từ Nha Trang ra sân bay Đông Tác, lệnh cho Tỉnh trưởng Phú Yên Vũ Quốc Gia điều động Liên đoàn bảo an 924 từ thị xã Tuy Hòa sang chốt giữ trục đường số 5 từ Phú Lâm lên Hòn Kén – Sơn Thành, Phú điều động Tiểu đoàn biệt động quân từ Khánh Hòa ra để chốt từ Đèo Cả đến Hòa Vinh. Ngày 17/3/1975, chỉ huy tiền phương của ta phát hiện máy bay của địch vận chuyển phương tiện từ sân bay Đông Tác lên Thạnh Hội – Sơn Hòa để chuẩn bị bắc cầu phao. Ngày 18/3/1975, bộ phận đi đầu của cánh quân Tây nguyên xuống theo trục đường 7 đến Tây quận Củng Sơn khoảng 8km thì làm đường cấp phối (đoạn vào nhà máy thủy điện sông Ba Hạ hiện nay) theo đường mòn vào Lỗ Lương xuống thôn Tây Hòa đến quận lỵ Củng Sơn, xuống núi Một (nay là nhà máy đường KCP) đến Thạnh Hội dừng lại để chờ bắc cầu phao vượt sông Ba. Trưa ngày 19/3/1975, chiếc cầu phao đã bắc xong, nhưng do quân đông, phương tiện nhiều, nhiều đơn vị hỗn hợp có cả gia đình binh lính, sĩ quan và dân di tản nên rất phức tạp không chỉ huy được, đã tranh nhau vượt cầu phao nên chiếc cầu bị lật phải sửa chữa nhiều lần, mất thời gian buộc chúng phải tổ chức vượt từng chiếc một, ưu tiên các phương tiện phục vụ cho chiến đấu và lực lượng chiến đấu, do đó mà kéo dài thời gian không còn yếu tố bí mật, bất ngờ đây chính là cơ hội cho quân ta cơ động lực lượng tổ chức chiến đấu đánh địch trên trục đường 5.
 
Như vậy, từ chiều ngày 19/3 đến ngày 24/3/1975, địch di chuyển qua cầu phao để vượt sông Ba mới được 2/3 phương tiện và lực lượng cơ động đến tập kết tại Hòn Kén – Sơn Thành, tổ chức phản kích để phối hợp với quân địa phương đánh chiếm trục đường 5 nhưng đều bị ta đánh bại, buộc chúng phải lui lại và co cụm ở Hòn Kén – Sơn Thành. Ngày 24/3/1975, Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 phát triển tấn công đến Củng Sơn, đánh quân địch co cụm ở núi Một và phát triển đánh quân địch cụm ở khu vực Thanh Hội, địch hoảng hốt cho máy bay thả bom phá cầu phao và hủy bãi xe ở Thạnh Hội, kết thúc số phận cánh quân từ Tây nguyên xuống đường 7 bắc cầu phao vượt sông Ba sang đường 5 trong một tuần lễ, mà các tướng lĩnh của ngụy thừa nhận đây là cuộc rút lui thảm hại trong lịch sử quân ngụy Sài Gòn.
 
Kế hoạch rút quân theo đường 7 khắc phục đoạn cuối bắc cầu vượt sông Ba sang đường 5 về Phú Lâm – Đông Tác là sự lựa chọn yếu tố bất ngờ, là sự đánh giá chủ quan, ỷ lại phương tiện hiện đại, có điều kiện cơ động nhanh, nhưng chúng không tính đến tính phức tạp, ô hợp của một đội quân thất bại, tư tưởng dao động, tổ chức chỉ huy không chặt chẽ dẫn đến thất bại chiến thuật, chiến dịch, chiến lược đi đến mất nước, như lời thú nhận của các tướng lĩnh ngụy quyền Sài Gòn.
 
Chiến thắng Đường 5, kết thúc số phận của quân địch với ý đồ rút lui về phòng giữ các tỉnh Duyên hải trong điều kiện chưa được chuẩn bị, chưa được tổ chức chỉ huy chặt chẽ, chưa được sự đồng tình ủng hộ của tướng lĩnh và sự đánh giá đối phương không đúng nên đã thất bại thảm hại, làm cho hơn 20 vạn quân và hơn 2 nghìn xe các loại bị tiêu diệt, bắt sống, thu chiến lợi phẩm, làm phá sản kế hoạch rút lui chiến lược, dẫn đến thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh ở miền Nam./.
 
Sau 37 năm, chúng ta có điều kiện để kiểm chứng lại những sự kiện chiến thắng oai hùng của quân và dân Phú Yên, phân tích làm rõ nguyên nhân thất bại của địch trên chiến trường, rút ra bài học chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu về sự linh hoạt, sáng tạo, bám sát nhiệm vụ, ý đồ của cấp trên để giành thắng lợi.
 
Trần Văn Mười
 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác