Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0963.53.88.39 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Đứa con ngoài giá thú

Cập nhật lúc 14:43 02/08/2019

Thực ra, danh sách xã đội bàn giao cho đoàn cán bộ tuyển quân hôm ấy là xã tôi có ba mươi người nhập ngũ, nhưng đến khi xe đổ quân xuống ga Đông Anh, chúng tôi mới phát hiện ra thằng Cao Vui là người không có tên đi kỳ này. Nó đi lậu. Người nó bé loắt choắt. Mỗi lần đi khám, nó tìm ra bao nhiêu cách để cho nặng thêm, cao thêm mà cũng chỉ đạt B2.

  • Rắc rối to rồi! chỉ đêm nay phát vé lên tàu là sẽ lộ bem hết - tôi nói với thằng Vui, khi cậu ta van vỉ bọn tôi đừng đuổi nó về.
  • Em đi, mẹ em cũng đồng ý mà. Với lại bây giờ mẹ em cũng đỡ khổ hơn trước rồi. Anh em mình có họ, anh nói giúp em với các thủ trưởng nhé - Nó vận động mấy đứa chúng tôi rồi giọng đanh lại, cương quyết - Có đuổi em cũng không về đâu!
  • Thế còn hồ sơ, giấy tờ của mày?
  • Ối giời! Em sống gần này tuổi có giấy tờ gì đâu. Với lại mình đi đánh Mỹ chứ có làm việt gian, phản động gì mà lo.

Biết nó nói ngang, nhưng tính nó thế. Xét trong họ, thì tôi là vai anh, ngành trên. Tuy nó kém tôi năm tuổi nhưng cũng vẫn coi nhau như là cùng lứa. tôi hiểu những ngang trái của cuộc đời bà Thác, mẹ nó và những điều không bình thường trong hồ sơ lý lịch của thằng Vui.

Dạo còn ở nhà, thỉnh thoảng mẹ tôi hay nhắc tới cái nạn “đại hồng thủy” trút xuống làng tôi mấy năm trước khởi nghĩa. Đó là trận vỡ đê giữa năm 1941. Tiếp đến là giặc Pháp đốt làng, phải bồng bế nhau tản cư lên đồi Dục ở nhờ. Đến khi Pháp rút, chưa hồi người, thì bệnh dịch đậu mùa và nạn đói cướp mất của làng mấy trăm sinh mạng. Có nhà chẳng còn lấy một người sống sót.

Trong số người thoát chết, chị Thác, mẹ thằng Vui bây giờ, là người chịu cái di chứng nặng nề nhất.

Cái hôm mẹ chị Thác qua đời, người làng chạy đến tháo phản đóng quan tài, chị bị nhốt trong chuồng củi ngoài góc vườn. Chị gào thét, van xin nhưng người ta không cho chị đến gần. Căn bệnh quái ác đã cướp mất bố chị, hai người anh, và bây giờ đến lượt bà mẹ.

Những người đến giúp tang lễ, đều bịt kín mồm mũi, sợ lây. Chính chị cũng đã thấy bệnh ngấm sang mình. Trong cơn tuyệt vọng đó, chị dường như không khóc nổi. Tiếng búa đóng áo quan như những mũi khoan xuyên vào bộ óc mụ mị. Nhưng tới lúc nhìn thấy đám người khiêng mẹ chị về phía cổng làng, bát cơm cúng lèn quả trứng luộc và đôi đũa vót xơ xớp lắc lư trên nắp ván thiên, chị đạp tung cánh cửa chuồng củi, chạy bổ theo. Đám ma chỉ lèo tèo vài người. Họ đi như chạy về phía tha ma. Chị Thác bươn bả như cố bấu víu vào những ngọn gió lạnh buốt trong buổi chiều u ám ấy. Chị còn trông thấy nắm nhang trên nắp quan tài bốc lửa cháy đùng đùng, rồi ngã xấp người xuống vệ cỏ, mê man.

Chị thoát chết. Bệnh đậu mùa không để lại những vết sẹo trên da thịt nhưng lại làm chị câm hẳn, tai vẫn nghe được mà miệng không nói được.

Trong số gái làng trật tự ấy, phải nói chị Thác vào loại có duyên nhất mà các bà khó tính khi chọn vợ cho con thường ao ước: “mỏng mày hay hạt”. Ác nỗi trời bắt chị phải mang tật suốt đời. Điều ấy khiến các bà có con trai lớn, dẫu có thương quý chị đến đâu, cũng không muốn mình có một cô con dâu “có miệng ăn mà không có miệng nói”. Chị Thác vậy nên thường xa lánh những đám cưới xin, đàn đúm của tụi thanh niên làng.

Thế mà bỗng người làng kháo ầm lên với nhau là chị Thác “chửa buộm”.

Lúc ấy tôi đã lên năm tuổi. Nghe cái chuyện ấy tôi chẳng hiểu gì. Nhưng mẹ tôi thì tỏ vẻ kinh hoàng. Chẳng gì thì mẹ tôi đối với chị cũng là người gần gũi nhất. Sớm lửa tối đèn, có gì nhờ cậy, chị đều trông vào mẹ tôi. “Ngôn ngữ” của chị , chỉ có mẹ tôi hiểu. Chị vừa ú ớ trong miệng, vừa giơ tay làm hiệu. Thế nào là nhờ mẹ tôi lên trông nom giúp hôm chị đảo lại mái nhà, thế nào là chiều nay hay sáng mai ra cấy đổi cho chị sào ruộng… vậy mà bây giờ. Mẹ tôi thẫn thờ, hoang mang nghe bà Mậu thì thào: “Rõ rồi bác ạ! Trông cái lông mày dựng đứng lên thế, cổ thì hý ha hý hóp. Tụi con gái tắm sông chúng nó bảo nhìn thấy hai núm vú thâm đen thì đích thị rồi…”

Chuyện chị Thác chửa hoang là cái tin nghiêm trọng đối với người làng. Người ta túm năm tụm ba vào bàn tán, đoán non đoán già xem ai là người ăn nằm với chị. Người ta dè bỉu, đem gương chị ra đe nẹt, dạy dỗ con gái lớn. Có người còn chửi cạnh, chửi khóe, nhưng chị Thác vẫn làm ngơ, chỉ mẹ tôi là người phải băn khoăn, rầu rĩ nhiều nhất. “Giọt máu đào hơn ao nước lã”. Có lúc trạnh lòng, mẹ tôi cay nghiệt: “Trời đã không cho nó cái mồm, thì bắt nốt cái tai đi có đỡ khổ nhục không?”

Chị Thác cứ sống câm lặng như thế. Những lúc ra khỏi nhà, chị ấp cái nón vào bụng, cúi mặt lầm lũi. Chị chọn lúc nào ít người đi lại nhất để đi hoặc về. Cho mãi tới một hôm, khi cái bụng chị đã to lắm, chị đến nhà tôi lúc chạng vạng tối. Chị quỳ xuống đất, ôm lấy chân mẹ tôi, nước mắt lã chã. Chị xin mẹ tôi tha thứ và thương chị. Chị cần có một đứa con để nó làm chỗ dựa trong cuộc đời… Tuy chẳng hiểu những bộ điệu của chị, nhưng tôi cũng khóc tức tưởi, thương chị.

Mẹ tôi nâng chị dậy, bảo tôi múc chén nước và đem ra cơi trầu. Rồi bà rót rượu, thắp nén nhang lên bàn thờ tổ tiên lầm rầm khấn khứa – Bố tôi xa nhà quanh năm, mọi việc giỗ chạp, cúng bái, mẹ tôi làm tất – Một lúc sau bà quay lại nói với chị Thác đang đứng nem nép bên cạnh: “Thôi, tôi đã lễ xin các cụ đại xá cho rồi. Dì đừng quá lo nghĩ, ảnh hưởng tới chuyện sinh nở thì khốn. Mọi việc đồng áng cứ để tôi lo cho. Số dì nó vất vả, trời thương cho mụn con, cố mà nuôi cho nó thành người. Trong làng, ngoài xóm rồi cũng hiểu cho tình cảm của dì thôi.”

Chị Thác nâng vạt áo lau khô nước mắt, nhìn mẹ tôi tỏ vẻ biết ơn.

Dạo chị sinh thằng Vui, ngày nào mẹ tôi cũng lo cơm, giặt giũ cho. Thằng cu Vui kém tôi năm tuổi, vừa là em họ vừa là bạn chăn trâu. Chỉ có điều, nó chẳng có một thứ giấy tờ gì công nhận là nó tồn tại ở trên đời này cả.

Trong thời Pháp chiếm đóng thì chẳng nói, nhưng khi hòa bình lập lại, những quan niệm cũ trong xã hội cũng còn nặng nề lắm. Chị Thác sinh thằng Vui, lấy theo họ mẹ, xã nhất quyết không khai sinh cho. Lúc nó đến tuổi đi học, bố tôi về phép, lên nói khó với xã, họ mới đồng ý cho vào học ở trường dân lập, nhưng vẫn không cấp giấy khai sinh. Tuy vậy nó học khá, lên lớp đều. Trong học bạ, mục ngày tháng năm sinh, nó chỉ ghi vẻn vẹn, sinh năm: 1946.

Tối hôm ấy, lúc phát vé tàu thì trật ra thằng Vui, chúng tôi cố trình bày với đồng chí trưởng đoàn, tình cảm và nguyện vọng của nó. Cũng may đó là một cán bộ rất nhân hậu. Ông bảo tôi gọi thằng Vui lên. Sau khi nghe nó trình bày, ông hứa sẽ nhận nó vào đơn vị. Thế là nó được cùng đi với chúng tôi.

Sau mấy tháng huấn luyện, chúng tôi được về phép để chuẩn bị đi B. Thằng Vui trông phổng phao hẳn lên. Bà con kéo đến chật nhà mừng cho chị Thác. Họ còn cho thằng Vui tiền, nhưng chị nhất quyết không nhận. Tôi nhắc nó nhân dịp này, lên xã xin giấy khai sinh để bổ sung vào hồ sơ trên đơn vị, nó bảo: “Thôi anh ạ! Cái lúc cần nhất để được đi học, được vào đoàn thì người ta chẳng cho. Bây giờ đi đánh giặc thì cần gì phải đủ tuổi hay không đủ tuổi. Rồi nó tếu táo: giả như lúc đánh nhau, giặc nó bắt được chắc nó cũng không cần biết mình có giấy khai sinh hay chưa.”

Mẹ tôi chửi: “Cha tổ bố chúng mày, chỉ được cái dại mồm dại miệng. Vào cái nơi hòn tên mũi đạn phải cho nó cẩn thận chứ đừng bỡn.”

Chúng tôi được bổ sung vào “Công trường 1” Quân khu 5. Vui ở cùng đại đội với tôi. Nó nhỏ người nhưng chiến đấu rất giỏi, đã hai lần đạt danh hiệu dũng sĩ. Mỗi lần được khen thưởng nó lại biên thư cho chị Thác.

Trong trận đánh Cao Lao. Vui được giao phụ trách tiểu đội trinh sát. Gần sáng các chiến sĩ khác rút về, nó nằm lại ở hàng rào thứ hai để quan sát cứ điểm ban ngày. Đó là một khu đồn kiên cố trong cụm cứ điểm của chi khu Việt An. Nó có tới bốn lượt rào thép gai, hai hào nước, cùng hàng chục hỏa điểm nổi chìm khác nhau.

Một đêm tháng hai, cái rét hơi núi như cứa da. Sau tiếng bộc phá nổ phát lệnh, chúng tôi theo kế hoạch, chiếm các trạm gác vòng ngoài và phát triển bao vây. Nhưng một loạt hỏa điểm ngầm của địch chặn đứng hai mũi đột kích lại. Liên lạc mất với hỏa lực ĐKZ, thế là chúng tôi phải nằm lại. Bỗng, trong ánh chớp súng địch, tôi nhận ra bóng thằng Cao Vui đang chạy lom khom trên mái nhà, phía trong hàng rào cuối cùng. Tiếng lựu đạn và AK của nó dội xuống đầu bọn xạ thủ địch. Hỏa điểm bị dập tắt, các mũi lợi dụng thời cơ vọt lên và gặp các tốp khác từ hướng nam đang phát triển thắng lợi trong cứ điểm.

Hơn một giờ sau, toàn bộ căn cứ Cao Lao đã bị diệt gọn. Nhưng trong số mười hai sĩ quan ngụy và hai tên cố vấn Mỹ bị chết và bị bắt không thấy thằng đại úy chi khu phó chi khi Việt An, kiêm chỉ huy trưởng Cao Lao. Tiểu đội trinh sát của chúng tôi cũng mất tích Cao Vui. Cả đêm đó, vừa tảo trừ bọn lẩn trốn, chúng tôi vừa ráo riết tìm nó, nhưng nó vẫn biệt tăm.

Ba hôm sau, lúc đơn vị tôi đang trú quân trong một khu rừng gần đó, rút kinh nghiệm và chuẩn bị đánh cứ điểm Việt An, thì một chiếc đầm già quần đảo trên đầu. Tiếng loa chiêu hồi lúc xa, lúc gần phát một bản tin làm tôi sửng sốt:

“Em là Cao Vui, sinh ngày 29.4.1946, con ông Cao Thác, xã Cao Minh, huyện Ph… tỉnh Vĩnh Phú, chiến sĩ thuộc Nông trường 1. Quân khu 5, nhắn tin cho anh Nguyễn Thanh Hải, đơn vị… biết: Em bị bắt tại trận Cao Lao, hiện đang được điều trị trong bệnh viện của Quân lực Việt Nam Cộng hòa được đối xử rất tốt… Em đã nhận ra con đường sai lầm của mình… và hồi chánh về với chính phủ Quốc gia… Quân lực Việt Nam Cộng hòa là vô địch… Em kêu gọi anh… Và các đồng chí trong đơn vị… hãy theo gương em về hồi chánh để tránh cái chết vô ích… và…”. “Đấy là bực thư của anh Cao Vui… nhắn tin cho anh Nguyễn Thanh Hải và cán binh Việt Cộng, đơn vị…”. Tiếng loa oang oang nhức nhối loang khắp rừng, cả đại đội tôi chết lặng nghe tiếng nói nghèn nghẹn của tên ngụy trên máy bay vọng xuống. Mọi người nhìn tôi. Tôi nhìn đồng chí đại đội trưởng.

Không phải! Tôi chợt la lên “đây không phải giọng lưỡi thằng Vui”. Tôi nắm lấy tay đồng chí chỉ huy, nó không thể là thằng hèn nhát… các đồng chí hãy tin tôi. Nó không có bố, nó cũng chưa bao giờ có ngày sinh tháng đẻ cả, có thể nó đã bị bắt, bị hy sinh, nhưng chiều hồi, đầu hàng thì không bao giờ. Mắt tôi bỗng cay xè.

Rồi chuyện thằng Cao Vui mất tích cũng bị bộn bề công việc lấn át đi. Tôi đã gặp Ban Tham mưu trung đoàn, báo cáo những điều không bình thường trong lý lịch của nó. Ban chỉ huy đại đội, tiểu đoàn đều nhận xét tốt về nó. Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn không sao gạt bỏ được nỗi lo lắng. Nó còn sống hay đã chết? Tôi tin nó không đầu hàng giặc. Nhưng, tại sao chúng có thể biết quê quán, họ tên tôi…?

Mười ngày sau, địch mở cuộc hành quân “Quyết thắng 408” nhằm chiếm lại cứ điểm Cao Lao. Đại đội tôi nằm trong đội hình diệt viện của tiểu đoàn trên lộ Quế Sơn – Đồng Ấp. Trận đánh gọn, thắng lớn. Và đến đây chuyện về Cao Vui mới được sáng tỏ. Tên đại úy chỉ huy căn cứ Cao Lao bị bắt. Qua tài liệu khai thác được biết: nhóm sĩ quan ngụy chạy thoát trong trận Cao Lao có đem theo một chiến sĩ quân giải phóng bị thương về chi khu Việt An. Chúng đã tìm thấy trong túi thằng Vui tấm ảnh tôi và nó chụp chung trước ngày lên đường vào Nam. Đằng sau tấm ảnh nó ghi tên mẹ, ngày chúng tôi nhập ngũ, năm nó ra đời và quê quán.

Tại trạm cấp cứu tiền phương của ngụy, tên đại úy tâm lý chiến yêu cầu Vui kêu gọi tôi và cán bộ chiến sĩ trong đơn vị đầu hàng, phục vụ cho âm mưu tái chiếm Cao Lao những ngày tới. Nằm trên giường bệnh, Cao Vui lóng ngóng cầm chiếc ống nói nặng chịch lật trái lật phải. Tên sĩ quan ngụy tưởng người chiến sĩ giải phóng không biết sử dụng. Nó ghé sát vào chỉ cho anh cách bấm công tác, cách nói. Bất thần Cao Vui phang một cú trời giáng vào mặt nó. Nó rú lên, hai tay ôm bộ mặt đầy máu.

Sáng hôm sau, trên con đường từ chi khi Việt An đi Hà Lầm, bà con thấy xác một chiến sĩ giải phóng bị kéo lê sau xe và bỏ lại giữa đường. Thi thể của anh được bà con cô bác chôn cất trong nghĩa trang, cách chi khu Việt An không xa.

… Mãi sau này, khi chúng tôi về giải phóng cả vùng Đại Lộc, Hiền Lộc, Thắng Đông. Anh em trung đội mới tìm thấy mộ Cao Vui. Ngôi mộ nằm ở giữa nghĩa trang Hiền Lộc, đầy hoa nhưng không có một tấm bia ghi tên họ người nằm dưới mộ.

Khi đã xác định kỹ, khớp với lời khai của tên chỉ huy căn cứ Cao Lao, chúng tôi khắc một tấm bia gỗ ghi họ tên quê quán và ngày Vui hy sinh.

Thực tình cho tới lúc ấy tôi cũng không biết nó sinh ngày nào, tháng nào, năm 1946. Mà có thể ngay cả nó cũng không biết cũng nên. Nhưng điều đó nào có quan trọng gì, nhưng chính vui đã từng nói thế, phải không Cao Vui.

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân

 

 

                                                                            

 

 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác

Danh sách liệt sĩ đã quy tập

  Tên chiến sĩ Quê quán
1 Nguyễn Xương Thái Bình
2 Nguyễn Văn Tuy Thái Bình
3 Phạm Văn Tuấn Thái Bình
4 Vũ Văn Tiến Thái Bình
5 Tèo Thái Bình