Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

“K3 Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn”

Cập nhật lúc 17:15 20/10/2016

35 năm bây giờ mới gặp lại, mừng mừng, tủi tủi, nước mắt lưng tròng. Không ai bảo ai, tất cả chúng tôi đều ào đến ôm chầm lấy đồng chí Đại tá Đỗ Văn Mến – người tiểu đoàn trưởng thân thương của chúng tôi ngày ấy và rồi từ trong sâu thẳm của lòng mình, chúng tôi bật thốt lên: “K3 Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn”.

Đại tá - Anh hùng LLVT Đỗ Văn Mến, Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn K3 Tam Đảo anh hùng- bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị- Người đã có câu nói nổi tiếng, sẽ mãi mãi đi cùng năm tháng: “K3 Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn”

Đó là lời hứa, là lời thề danh dự của Tiểu đoàn 3 chúng tôi cách đây hơn 40 năm, trước các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Trị, trước đồng chí Tư lệnh Mặt trận Lê Trọng Tấn khi chúng tôi được Tư lệnh giao nhiệm vụ đặc biệt chốt giữ Thành cổ Quảng Trị. Từ đó: “K3” là tổ chức biên chế cấp tiểu đoàn của tỉnh đội Quảng Trị , “Tam Đảo” là mật danh chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị của tiểu đoàn.

Ngày 16 tháng 9 năm 2016 theo đề nghị của Ban liên lạc tiểu đoàn K3 Tam Đảo - công đoàn ngân hàng nhà nước Việt Nam đã tài trợ cho tỉnh Quảng Trị 1 tỷ đồng để phục chế lại căn hầm của sở chỉ huy tiểu đoàn K3 Tam Đảo bị bom dù địch đánh trúng ngày 13-8-1972 tại giáp cổng Tây Thành cổ.

 

Ngày 9/7/1972, sau khi đã đi cùng các đơn vị bạn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu giải phóng thị trấn Cam lộ ngày 1/4/1972, giải phóng Đông Hà ngày 28/4/1972, Tiểu đoàn 3 Tỉnh đội Quảng Trị chúng tôi lại một lần nữa được lịch sử giao phó trực tiếp tham gia trận đánh 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, trận đánh sẽ mãi mãi đi cùng năm tháng.

Bốn năm trước, mười ngày cuối tháng 6, đầu tháng 7/1968, tại mặt trận Khe Sanh, Tiểu đoàn 3 chúng tôi cũng vinh dự được giao nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu giải phóng Khe Sanh. Những chiến thắng đánh quân lính thủy đánh bộ Mỹ ngày ấy ở các cao điểm 832, 845, 689, Động Tri đã gắn liền với lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Tiêu biểu nhất là trận đánh đêm mùng 7 rạng sáng ngày 8/7/1968 ở cao điểm 689 của tiểu đoàn đã buộc quân Mỹ phải tháo chạy ở Khe Sanh. Trận đánh làm nức lòng quân và dân cả nước. Trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam ngày đó có câu: “Cả nước xin được ôm hôn các dũng sĩ trên cao điểm 689”. Trong những ngày chiến đấu đầy ác liệt ấy, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, có hai người được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là Anh hùng, liệt sĩ Phạm Ngọc Khánh và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Hữu Quyền.

Mờ sáng ngày 10/7/1972, cả tiểu đoàn chúng tôi từ Nhan Biều vượt sông Thạch Hãn sang chốt giữ Thành cổ Quảng Trị. Sở chỉ huy tiểu đoàn được đặt tại mép thành phía trong kề cổng Tây. Đại đội 12, đại đội hỏa lực bố trí ở phía Tây Bắc, Đại đội 10 chốt giữ hướng Đông Bắc, đại đội 11 chốt giữ hướng Đông Nam, còn Đại đội 9 chốt giữ phía Nam và Tây Nam Thành. Ngày đầu tiên vào Thành cổ, tiểu đoàn chúng tôi đã phải hứng chịu những trận bom, pháo ghê gớm. Cả tiểu đoàn phải xây dựng hầm hào chiến đấu dưới mưa bom bão đạn và chúng tôi đã có hơn 30 đồng chí bị thương vong, trong đó có đồng chí Lâm – Đại đội trưởng Đại đội 12.

Ngày 15/7/1972 là ngày tái họp hội nghị bốn bên ở Pa-ri để bàn về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tướng Ngô Quang Trưởng – tư lệnh chiến dịch tái chiếm Quảng Trị của ngụy ra lệnh cho tất cả các lực lượng của địch bằng mọi giá phải cắm được cờ ba que lên Thành cổ vào ngày 13/7/1972 để đưa sang Pa-ri làm công tác tuyên truyền lừa bịp. Bộ tư lệnh chiến dịch của ta ra lệnh cho Tiểu đoàn 3 phối hợp cùng các đơn vị bạn bằng mọi giá phải giữ vững Thành cổ, cương quyết không cho địch cắm cờ lên, phải bảo đảm an toàn cho từng mét đất trong thành. Quân ủy Trung ương điện cho Tiểu đoàn 3 chúng tôi: Vì tổ quốc, Tiểu đoàn 3 Tỉnh đội Quảng Trị phải giữ vững Thành cổ bằng mọi giá. Đảng ủy và Ban chỉ huy tiểu đoàn khẳng định đây không chỉ là một bức điện của Quân ủy Trung ương mà còn là mệnh lệnh của Tổ quốc. Tiểu đoàn 3 chúng tôi một lần nữa hứa với Quân ủy Trung ương: “K3 Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng trị còn”.

Ngày 12/7/1972, một lượng bom pháo khổng lồ của địch giội xuống Thành cổ làm cho chúng tôi cả ngày không nhìn thấy ánh sáng mặt trời vì mịt mù khói đạn. Đêm ấy cả tiểu đoàn không ngủ. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đỗ Văn Mến cùng đồng chí Chính trị viên phó tiểu đoàn Lê Binh Chủng  luôn có mặt ở tất cả các chốt chiến đấu, nhất là các chốt hướng Đông Bắc, hướng mà luôn cấp trên nhận định sẽ có thể địch vào Thành. Chúng tôi luôn tỉnh táo, sẵn sàng chiến đấu bẻ gãy ý định cắm cờ của địch.

Ngày 13/7/1972, cả tiểu đoàn tiếp tục phải hứng chịu bom pháo dội xuống, một hầm chiến đấu của Đại đội 10 đã hy sinh toàn bộ do khoan rơi trúng. Rạng sáng ngày 14, ở trận địa chốt của Trung đội, 3 Đại đội 11 phía Đông Bắc Thành do Tiểu đội phó Lê Cảnh Tứ chỉ huy (đồng chí Tứ quê ở Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An, sau này là Đại tá, công tác tại Phòng Chính trị - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ An, hiện đã nghỉ hưu), phát hiện một tốp biệt kích ngụy đang luồn lách qua những bức tường Thành bị bom pháo khoan thủng hôm trước, có ý định bò lên cắm cờ. Đồng chí bình tĩnh cùng tiểu đội xuất kích tiếp cận gần mép Thành. Toán biệt kích ngụy vừa leo lên Thành, chưa kịp cắm cờ đã bị tiểu đội đồng chí Tứ đồng loạt nổ súng tiêu diệt. Đồng chí Nguyễn Văn Sĩ, quê ở Diễn Thái, Diễn Châu, Nghệ An nhanh như sóc, dưới sự yểm trợ của tiểu đội lao lên giành lá cờ ba que từ tay tên biệt kích ngụy đã bị bắn chết. Tiểu đội đồng loạt ném lựu đạn ra ngoài hào nước. Cùng lúc đó Đại đội 11 xuất kích, bẻ gãy cuộc tiến công bí mật, chớp nhoáng của một toán biệt kích ngụy nhằm cắm cờ lên Thành cổ. Lá cờ ba que này sau đó tiểu đoàn bàn giao lại cho Tỉnh đội (cuối tháng 12/1972, đồng chí Nguyễn Văn Sĩ đã hy sinh tại phía Đông sông Vĩnh Định, trong khi chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng).

Những ngày tiếp theo, bọn địch lại giội xuống Thành cổ một lượng bom pháo lớn. Có những ngày chúng giội xuống thị xã và Thành cổ theo ước tính khoảng 36 nghìn viên đại bác các loại. Chúng định hủy diệt mọi sự sống trong Thành.

Ngày 23/7/1972, từ hướng Đông Bắc và Đông Nam, bộ binh tấn công dữ dội vào Thành nhưng chúng đều bị Tiểu đoàn 3 lợi dụng hầm hào chiến đấu, đồng loạt xuất kích đánh bật ra khỏi Thành.

Trưa ngày 24/7/1972, một đại đội biệt kích liều lĩnh từ hướng Đông Bắc tiến công vào Thành. Đại đội 10 và Đại đội 11 từ các hầm hào chiến đấu đồng loạt xuất kích, chia cắt địch ra từng toán để tiêu diệt. Đến gần 3 giờ chiều, đại đội biệt kích này gần như bị tiêu diệt. Số còn lại hoảng loạn rút chạy khỏi Thành, để lại hàng chục xác đồng bọn. Những ngày này bom đạn địch giội xuống Thành cổ dày đặc và liên tục quân số của tiểu đoàn bị thương vong ngày càng nhiều. Nhưng với truyền thống Tiểu đoàn 689, với lời thề danh dự với quê hương Quảng Trị và đồng chí Tư lệnh mặt trận, tiểu đoàn không hề nao núng, chúng tôi còn một người thì Thành cổ Quảng Trị còn.

Cuối tháng 7 đầu tháng 8/1972, mưa liên tục đã gây cho tiểu đoàn chúng tôi muôn vàn khó khăn. Hầm hào ngập nước, sụt lở. Máu của thương binh trộn với bùn đất. Có những ngày cả tiểu đoàn phải chịu đói vì hậu cần phía sau bị gián đoạn. Địch lợi dụng mưa bão, tăng cường đánh phá ác liệt vào Thành. Trong khó khăn chung của toàn mặt trận, Bộ tư lệnh chiến dịch vẫn ưu tiên bổ sung quân cho Tiểu đoàn 3 chúng tôi. Điều đó có thể nói lên phần nào sự tổn thất về quân số của Tiểu đoàn 3 và nhiệm vụ giữ Thành quan trọng đến nhường nào.

Gần trưa ngày 13/8, địch dùng một loại bom mới đánh vào Thành nhằm tiêu diệt chúng tôi, đó là bom dù. Quả bom dù định mệnh này, lần đầu tiên địch sử dụng và ném xuống Thành cổ, lại rơi trúng vào ngay vào sở chỉ huy Tiểu đoàn. Đồng chí Chính trị viên phó tiểu đoàn Lê Binh Chủng cùng các đồng chí chỉ huy, thông tin, trinh sát, vận tải của tiểu đoàn hy sinh. Không thể để mất mát này ảnh hưởng đến bộ đội, Tiểu đoàn trưởng Đỗ Văn Mến, mặt sạm đen khói đạn, chỉ với cái quần đùi và khẩu AK báng gập bên mình, mò mẫm đến từng chốt chiến đấu động viên bộ đội: “Chúng ta hãy biến đau thương thành hành động, phải kiên cường chiến đấu tiêu diệt địch, giữ vững Thành cổ Quảng Trị”.

Ngày 10/9/1972, địch từ Tri Bưu và Hành Hoa, dưới sự yểm trợ tối đa của phi pháo, tiếp tục tiến công vào Thành cổ từ hướng Đông Bắc. Quân số của tiểu đoàn lúc này tất cả chỉ còn vài chục tay súng nhưng cả tiểu đoàn đều đồng loạt xuất kích đánh trả địch. Nhiều trận đánh ác liệt diễn ra dưới chân Thành. Địch chịu không nổi phải bỏ chạy để lại 11 xác.

Ngày 11/9/1972, từ các hướng, địch tiếp tục mở các đợt tiến công vào Thành. Mới tờ mờ sáng, một tốp địch liều chết nhảy vào. Đại đội trưởng Đại đội 10 Trần Quang Hòa, quê Đồng Tĩnh, Tam Dương, Vĩnh Phúc, chỉ huy đại đội từ các hầm hào xuất kích tiến công đánh bật địch ra khỏi Thành. Đến gần trưa, một đại đội lính thủy đánh bộ lọt vào Thành. Hỏa lực của mặt trận vừa ngừng bắn, cả Tiểu đoàn 3, dưới sự chỉ huy của đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đỗ Văn Mến đồng loạt xuất kích tiến công. Địch bị tiêu diệt hàng chục tên, bọn còn lại rút chạy khỏi Thành.

Ngày 12/9/1972 là đỉnh điểm của sự ác liệt. Với vài chục tay súng còn lại, chúng tôi phải đương đầu với hàng đại đội lính thủy đánh bộ ngụy. Đồng chí Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Hữu Đoài đã hy sinh ngay tại cổng Tây vì một quả M79 bắn thẳng của địch. 12 giờ trưa, từ góc Đông Nam, hai đại đội lính thủy đánh bộ liều chết tiến công vào Thành. Đồng chí Hán Duy Long, chiến sỹ Đại đội 9 bắn liền một lúc 9 quả B-40 và một quả B-41 vào đội hình địch, đến nỗi ngất gục tại công sự (đồng chí Hán Duy Long, quê ở huyện Hương Khê, Hà Tĩnh, sau này được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, sau là Đại tá, công tác tại Học viện Quân y). Tiểu đoàn dựa vào hầm hào công sự kiên cường đánh trả quyết liệt. Đến 2 giờ chiều, địch phải tháo chạy khỏi Thành.

Bốn ngày dùng bộ binh liên tục từ 3 hướng tiến công vào, nhưng địch vẫn không chiếm được Thành, quay ra củng cố công sự và bao vây Thành từ ba phía. Chúng điều cả xe tăng phun lửa liên tục tấn công vào các chốt của ta. Chốt chiến đấu của tiểu đoàn có điểm chỉ cách địch 50m. Ngày 14/9/1972, sau khi dùng xe tăng phun lửa dữ dội vào các chốt của ta, địch tiến công vào Thành. Tiểu đoàn lúc này chỉ còn gần 20 tay súng, quyết tâm thực hiện lời thề danh dự: “K3 Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn”, với B-40, B-41, lựu đạn, nổ súng đánh trả quyết liệt vào đội hình của địch, buộc địch phải rút chạy. Hai giờ chiều, một toán địch lọt vào Thành từ góc Đông Nam liền bị các tay súng của Đại đội 9 đánh bật ra. Đến 18 giờ, lợi dụng lúc trời chạng vạng tối, địch liều lĩnh mở đợt tấn công dữ dội vào Thành. Được sự chi viện của K8 và các tay súng của Trung đoàn 48, Sư đoàn 320, tiểu đoàn chúng tôi đã ngoan cường chiến đấu, đánh bật địch ra khỏi Thành.

Ngày 15/9/1972, trên hướng Đông Nam và hướng Nam, địch liên tục mở các đợt tấn công nhỏ vào Thành. Tuy vậy, các đợt tấn công này đều bị các tay súng của Đại đội 9, Đại đội 10 đánh bật ra. Dưới hỏa lực tối đa, kể cả súng phun lửa, nhiều lần địch dùng bộ binh từ ba hướng tiến công nhằm chiếm Thành. Nhưng chúng đều bị tiểu đoàn chúng tôi đánh trả quyết liệt, giữ vững Thành cổ.

Ngày 16/9/1975, khi quân số tiểu đoàn chúng tôi bị thương vong gần hết thì cũng là lúc tiểu đoàn được lệnh rời khỏi Thành, kết thúc 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ.

Thế là bằng lòng quả cảm, bằng tinh thần xả thân vì Tổ quốc, bằng sự hy sinh anh dũng của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ trong 81 ngày đêm kiên cường chiến đấu bảo vệ Thành cổ, tiểu đoàn chúng tôi đã thực hiện được lời hứa với Đảng bộ và quê hương Quảng Trị: Còn một người chúng tôi cũng chiến đấu. Và chúng tôi cũng đã thực hiện được lời thề danh dự trước lúc vào Thành với đồng chí Tư lệnh Mặt trận: “K3 Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn”.

Ngày 23/9/1972, với thành tích đặc biệt xuất sắc trong 80 ngày đêm bảo vệ Thành cổ, Tiểu đoàn 3 Tỉnh đội Quảng Trị đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam theo Quyết định số 107/QĐ-CP do Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát ký.

Nguyễn Văn Hợi

 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (2)

Nguyễn Văn Minh

Máu các anh đã đổ, xương các anh đã rơi, để lại phía sau một cuộc sống ấm lo, hạnh phúc. Các thế hệ đã nghĩ gì? làm gì ? để đền đáp được công ơn các anh, những người đã ngã xuống và những người còn sống sót tới ngày hôm nay đang có cuộc sống khó khăn và bệnh tật bên mình?

05/11/2016

Hoang Lan

Một người lính cụ Hồ, thật quả cảm, vinh quang cho Tổ quốc. Tổ quốc và nhân dân vinh danh các anh

26/10/2016

Các tin khác