Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Máy bay MIG trên bầu trời Việt Nam

Cập nhật lúc 15:14 29/12/2019

Đại tá Isaev Piotr Ivanovich sinh ngày 5-8-1933 tại vùng Altai, Liên bang Nga. Tháng 8-1968, khi đang là Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân thuộc Quân khu Ban Tích, ông được cử sang Việt Nam công tác với cương vị là Trưởng nhóm chuyên gia không quân Liên Xô, có nhiệm vụ huấn luyện nâng cao kỹ năng chiến đấu cho các phi công Việt Nam.

 
Đại tá Isaev năm 2011
 
Chúng tôi trân trọng trích dịch bài hồi ức của ông với tiêu đề “Máy bay MiG trên bầu trời Việt Nam” đăng trong tập hồi ức “Việt Nam không thể nào quên” của các chuyên gia quân sự Liên Xô đã công tác ở Việt Nam thời kỳ 1961-1974.
 
Giây phút đầu tiên đặt chân xuống sân bay Gia Lâm, Hà Nội, tôi vui mừng được Thiếu tướng Antsipherov Evgheny Nikolaevich, nguyên là Sư đoàn trưởng của tôi ra tận chân cầu thang máy bay đón. Sau khi đưa tôi đến sứ quán Liên Xô gặp lãnh đạo đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô và Phó tùy viên quân sự, ông đã giới thiệu cho tôi về tình hình trong lực lượng phòng không-không quân Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông nhấn mạnh vào việc cần nâng cao chất lượng huấn luyện chiến thuật bay và kỹ năng chiến đấu cho các phi công Việt Nam.
 
Tôi được thiếu tướng đưa đến gặp các đồng nghiệp đang sống trong khuôn viên ngôi chùa cách sân bay Nội Bài không xa. Các bạn đã trình bày với chúng tôi về những vấn đề mới phát sinh và đề xuất cách giải quyết. Ngay trong ngày hôm đó, tôi được trang bị mũ sắt, đồng phục bay, súng lục, thẻ chuyến bay, phù hiệu Không quân Việt Nam đeo trên áo bay và chứng minh thư do Thiếu tá Trần Hanh, Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921 ký, xác nhận tôi là công dân Liên Xô đến Việt Nam công tác và đề nghị các công dân Việt Nam giúp đỡ tôi khi thực hiện nhiệm vụ.
 
Ngày hôm sau, chúng tôi đến sân bay. Tại đây, tôi gặp các phi công Việt Nam đang trực chiến. Các bạn nói với tôi rằng, hiện nay, mục tiêu ném bom của máy bay Mỹ là ở phía nam Hà Nội, các máy bay tiêm kích của trung đoàn đang tiến hành không chiến trong khu vực đó. Còn khu vực Hà Nội và Hải Phòng, Mỹ dùng máy bay không người lái tiến hành trinh sát. Ngày hôm sau, tôi đã nhìn thấy một máy bay trinh sát không người lái bay qua khu vực chúng tôi. Bộ đội phòng không đã bắn máy bay trong suốt tuyến đường bay của nó, nhưng tất cả đạn đều nổ sau đuôi. Tôi nhớ khi đó chúng tôi hét lên: “Tăng độ bắn đón lên!”.
 
Trong chương trình huấn luyện bay, chúng tôi đưa nhiệm vụ số 1 là cần phải đánh máy bay không người lái. Muốn thế phải nghiên cứu chiến thuật tác chiến của máy bay tiêm kích trong những điều kiện địch thả nhiễu tích cực trước khi phóng máy bay trinh sát không người lái vào khu vực chúng cần trinh sát.
 
Chúng tôi đã đi bộ đến khu vực đặt trạm ra-đa, nơi bảo đảm các hoạt động chiến đấu của Trung đoàn Không quân 921. Quan sát trên màn hình ra-đa, chúng tôi nhận thấy kẻ địch đã thực hiện các bước sau đây: Đầu tiên, máy bay gây nhiễu Cu-130 đi vào khu vực phóng máy bay trinh sát và bay một vòng khép kín để thả nhiễu. Nó có thể bay từ vài phút đến 1-2 giờ. Tiếp theo, trên màn hình có thể thấy hai loại máy bay cùng xuất hiện và cùng nằm trong các vùng hai bên sườn của sân bay ở một khoảng cách hợp lý.
 
Với phương thức hoạt động như trên của không quân Mỹ, trung đoàn đã thành lập hai nhóm: Một nhóm bao gồm các phi công Liên Xô đóng vai trò máy bay không người lái; nhóm thứ hai bao gồm các phi công Việt Nam đóng vai trò máy bay chiến đấu.
 
Giả định, khu vực làm nhiệm vụ trực ban của máy bay chiến đấu được đặt trên sân bay và các máy bay trinh sát không người lái đột ngột bay ở tầm thấp qua khu vực này với các đường bay khác nhau. Muốn phá hủy máy bay trinh sát không người lái của địch, các phi công Việt Nam phải có phản ứng nhanh, mở rộng tầm nhìn chiến thuật, nâng cao khả năng tác chiến.
 
Chương trình thứ hai là đào tạo phi công Việt Nam biết tiêu diệt các mục tiêu mặt đất. Với mục đích này, các bạn Việt Nam đã dùng một tấm bảng màu trắng làm mục tiêu và đặt nó gần đường băng.
 
Bài thực hành được thực hiện theo phương án: Một phi công Liên Xô và một phi công Việt Nam cùng ngồi trên máy bay huấn luyện chiến đấu MiG-21Y.
 
Lần bay thứ nhất, phi công Liên Xô cho máy bay tiếp cận các mục tiêu ở độ thấp (50m), sau đó thực hiện chiến đấu bằng cách cho máy bay bổ nhào với góc 30-40 độ, ngắm mục tiêu và bắn hoặc ném bom bằng chụp ảnh.
 
Lần bay thứ hai, phi công Việt Nam thực hiện các động tác trên. Kết thúc chương trình này là bài thực hành bắn và ném bom mục tiêu trên trường bắn.
 
Chương trình thứ ba là chúng tôi huấn luyện 8 phi công của hai trung đoàn MiG-21và MiG-17 điều khiển máy bay trên biển ở độ cao cực thấp và ném bom vào tàu của địch. Bản chất của phương pháp ném bom này như sau: Máy bay tiếp cận tàu địch ở độ cao cực thấp, tương xứng với chiều cao của cột buồm và hướng vuông góc với thân tàu. Không cần đến sát con tàu, thả một quả bom xuống một điểm đã được tính toán, bom bắt đầu bật trở lại. Ở giai đoạn đầu tiên, khi bom rơi xuống, nó sẽ đâm vào mạn tàu.
 
Hai phi đội tham gia các chuyến bay này đã được lệnh di chuyển máy bay đến sân bay Cát Bi, Hải Phòng. Còn chúng tôi đã đi đến Hải Phòng bằng đường bộ.
 
Chúng tôi nhanh chóng bắt đầu chuẩn bị cho chuyến bay. Các đồng chí Việt Nam giới thiệu với chúng tôi tình hình hàng hải và hàng không trong khu vực sẽ bay tới và những vấn đề có thể phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các bạn Việt Nam đưa ra một số khuyến nghị sơ bộ về cách giải quyết những vấn đề này như sau:
 
Thứ nhất, khi đánh vào hàng không mẫu hạm của địch nằm ở khu vực cách bờ biển 80-100km, nếu chúng tôi bị phát hiện, máy bay chiến đấu của địch có thể sẽ cất cánh để tiêu diệt hoặc hất cẳng chúng tôi ra khỏi khu vực. Trong trường hợp này, theo lệnh của bộ chỉ huy, chúng tôi phải nhanh chóng rời khỏi không phận trên biển và đi vào hành lang bờ biển, đến khu vực chờ của chúng tôi.
 
Thứ hai, có rất nhiều ngư dân Việt Nam trên biển và trên mỗi tàu đánh cá đều có súng máy phòng không; còn chúng tôi lại không có mối liên hệ nào với họ. Các đồng chí Việt Nam khuyên chúng tôi không nên đến gần những con tàu đánh cá.
 
Với quyền hạn của một trưởng nhóm và cũng là một phi công trên biển, chuyến bay trinh sát đầu tiên tôi quyết định tự thực hiện trên một chiếc máy bay UTI MiG-15 với một phi công từ trung đoàn MiG-17.
 
Trước khi bay, thông qua phiên dịch, tôi đưa ra cho người phi công đó một chỉ thị: Chúng ta bay ra biển ở độ cao 2.000m.
 
Bay ra biển dọc theo hành lang định trước. Một bức tranh về biển mở ra trước mắt chúng tôi: Mặt biển phẳng lặng, mịn màng với hàng trăm tàu đánh cá. Cần phải làm như thế nào để các ngư dân hiểu rằng đây là máy bay của Không quân nhân dân Việt Nam đang bay ở độ cao mà súng máy cao xạ của họ có thể bắn hạ được máy bay, đồng thời ở độ cao này cho phép ngư dân phân biệt được dấu hiệu trên máy bay.
 
Sau khi đưa ra quyết định như vậy, tôi điều khiển máy bay và bắt đầu hạ xuống độ cao 1.500m. Đột nhiên, một lệnh được phát ra từ chỉ huy sở. Trong lệnh đó, tôi chỉ hiểu có một từ cảnh báo, đó là từ “MI”, nghĩa là “người Mỹ!”.
 
Phi công Việt Nam nhanh chóng nắm lấy quyền điều khiển máy bay và sau khi thực hiện một động tác đầy năng lượng, đồng nghiệp của tôi đã hướng máy bay về bờ biển đến khu vực chờ. Vì vậy, trong một chuyến bay, chúng tôi đã bay ra biển ba lần và quay lại, như thể chúng tôi đang chơi trò “mèo và chuột” với người Mỹ.
 
Cách làm trên đã diễn ra tương tự trong các chuyến bay khác với các phi công khác. Kết quả cuối cùng là các ngư dân đã nhận ra chúng tôi là người của mình và chỉ sau một ngày, chúng tôi đã bay trên họ ở độ cao có thể thấp nhất, thực hiện kỹ thuật bay thí điểm. Họ vẫy tay chào đón chúng tôi, còn chúng tôi đáp lại họ bằng nhiều thủ thuật khác nhau trên máy bay.
 
Chúng tôi thực hiện các chuyến bay chuyên sâu, bay vào ban đêm. Những phi công từng bay ban đêm mặc dù đã nghỉ bay, nhưng chỉ sau 2-3 chuyến bay với người hướng dẫn của chúng tôi, họ đã bay độc lập. Đối với những người lần đầu bay vào ban đêm, chúng tôi phải hướng dẫn đầy đủ chương trình và các phi công Việt Nam đã độc lập thành thạo bay trong đêm.
 
Tháng 7-1969, tôi hoàn thành nhiệm vụ được giao và trở về Liên Xô. Khi tôi giảng dạy tại Học viện Không quân Gagarin, tôi rất vui mừng được gặp lại một số phi công Việt Nam mà chúng tôi đã đào tạo nâng cao ở Việt Nam. Tôi càng tự hào vì một nửa trong số họ là Anh hùng nhân dân của Việt Nam.
 
Tôi luôn luôn nhớ và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã ký quyết định tặng tôi Huân chương Chiến công hạng Ba và Huy chương Hữu nghị.
 
ISAEV PIOTR IVANOVICH
 
 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác