Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0963.53.88.39 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Một cái tết không bao giờ quên

Cập nhật lúc 08:12 07/02/2019

Trong đời Lính Quân Giải Phóng của tôi , từ ngày vào Giải phóng quân cho đến 30 tháng 4 năm 1975 liên tục 15 năm trải qua 14 cái Tết với núi rừng và những cuộc chiến đấu trong gian khổ, thiếu thốn, đói cơm nhạt muối nhưng có một cái Tết mà suốt đời không bao giờ quên. Nó xảy, trọn cả 3 ngày tết, trong hoàn cảnh khắc nghiệt giữa sự sống còn, lòng trung thành và cái chết cận kề. Chúng tôi là tổ công tác lẻ của lực lượng bộ đội địa phương huyện đang mở chiến dịch truy lùng “Tìm diệt và Bình định” giữa vòng vây của Sư đoàn Kỵ binh bay số I(Mỹ).

Đó là Tết Đinh-Mùi ( 1967) ở vùng núi Tây huyện Phù Cát tỉnh Bình định ở vùng trong điểm của các cuộc hành quân có qui mô lớn.

Ở phía đông huyện, khu vực Núi –Bà, kể từ tháng 9 năm 1966 quân Nam-Hàn, sau 5 tháng đổ quân đánh phá ác liệt trong cuộc hành quân mang tên Đại Bàng 180  với lực lượng qui mô cấp trung đoàn của Sư đoàn Mãnh-Hổ, chúng vẫn đang lùng sục giai đoạn cuối. Hầu hết lực lượng bộ đội, cán bộ địa phương đã nếm trải tổn thất, số còn lại cũng bị đánh dạt ra khỏi núi Bà.

Năm đó tôi là một sĩ quan kỹ thuật vũ khí, tỉnh đội phái về Phù Cát trong 2 năm để thâm nhập, nghiên cứu thu vũ khí  bom đạn Mỹ , giúp cải tiến mìn tự tạo cho du-kích dùng chống lại các cuộc càn quét của quân Mỹ và Nam –Hàn ở vùng trọng điểm phía Nam tỉnh. Phía tây Quốc lộ 1, vùng núi và xóm làng ven núi từ Thung lũng Cát Sơn vào đến Thuận-Ninh quân Mỹ tiếp tục đổ quân chốt hầu hết các cao điểm và tung quân lùng sục các xóm làng nơi có dân làng trụ bám sinh sống. Dân ở đây chủ yếu là người già, phụ nữ.

 Giai đoạn này Mỹ tiến hành kết hợp cả hai mục tiêu là Tìm diệt Giải phóng quân và Bình định Nông thôn mà chủ yếu là dồn hết cư dân rời khỏi vùng Giải phóng, gom xuống dọc Quốc lộ, tạo ra những vùng trắng ngăn cách đồng bào với cách mạng. Chúng lập các khu để cách ly triệt để người dân với các lực lượng Quân giải phóng. Các lực lượng chủ lực của ta có qui mô cấp tiểu đoàn trở lên đã chủ động di chuyển ra xa hoặc phân tán nhỏ xen kẽ với quân Mỹ trên vùng núi đồi, rừng rậm khe suối có hang đá. Riêng chúng tôi là lực lượng địa phương huyện, không di chuyễn xa chỉ phân tán chung sống hàng ngày đối diện với sự truy lùng của lính Mỹ.

Chuẩn bị Tết

Vào chiều 30 tháng chạp năm ấy, ngày cuối cùng của năm Bính Ngọ. Bộ phận chúng tôi có 4 anh em trong cơ quan huyện đội . Sau nhiều ngày căng thẳng sống xen kẽ với quân Mỹ trên sườn núi, không còn lương thực vì  không xuống được dưới làng.  Chúng tôi ra đứng trên đỉnh núi Hòn Quít nhìn xuống thôn Đại Khoang quan sát quân Mỹ ở những vị trí chúng triển khai phục kích chốt giữ cửa rừng ven làng, để tìm nơi sơ hở, đêm xuống vào làng gặp đồng bào, cùng đón giao thừa, song chủ yếu là tìm lượng thực cho những ngày tới.

Khoảng sau 4 giờ chiều, từ phía căn cứ dã chiến núi Một và sân bay Phù Cát từng tốp trực thăng các loại dàn hàng ngang bay rất thấp, vây kín khu vực xóm làng chạy dài  gần hai cây số theo chiều Bắc-Nam. Cả trực thăng vũ trang và tàu vận tải SINOOK- CH 47 . Chúng đổ quân vây làng bắt hết dân lùa ra gò trống, một số cho lên trực thăng, một số xua đi theo đường bộ xuống quốc lộ 1, chỉ trong khoảng thời gian không quá một giờ đồng hồ. Sau đó lính Mỹ chia nhau sục từng xóm nhỏ, châm lửa đốt hết nhà cửa trên suốt chiều dài của cả hai thôn Đại Khoang và Long Định hàng trăm nóc nhà tranh, khói lửa bốc lên che kín cả khu vực. xen lẫn tiếng súng tiểu liên, tiếng lựu đạn, và tiếng nổ lốp đốp của ống tre.

Anh em tôi thất vọng nói với nhau: “Thôi thế là hết hy vọng Tết nhứt rồi” Đồng bào chúng gom đi hết, giờ xuống đó với ai? chỉ có điều những ngày tới biết ra sao?  … Tuy nhiên chúng tôi vẫn quyết xuống làng để tận mắt xem có còn sót lại ai không và cũng để tìm họa may bất cứ thứ gì có thể nuôi sống những ngày tới. Vì biết rõ qui luật, ban đêm quân Mỹ ra các gò đất trống, cửa rừng để phục kích, chúng không bao giờ nằm lại trong xóm, lách qua kẻ hở những nơi không gặp Mỹ, chúng tôi tiếp cận từ phía Nam vào xóm. Len lỏi trong bụi cây tránh ánh sáng của lửa cháy từ các căn nhà còn bốc lên ra đến phía đầu Bắc cuối xóm, nơi có ngôi nhà gia đình của một đồng chí trong nhóm công tác. Tất cả chỉ là nhà tranh vách đất, bị thiêu trụi. Nhiều nơi lửa vẫn còn bốc lên sáng rực. Bọn Mỹ đã đốn sạch từng bụi chuối, đập nát chum vại, nồi trách đất, cối xay lúa và tất cả. Chúng đập đổ lúa gạo, khoai sắn khô vương vãi khắp các sân nhà. Chúng triệt phá, hủy hoại đến mức những cái gáo múc nước bằng sọ dừa, gàu xách nước cũng bị đập vỡ nát, những sợi dây thừng cột bò  bị chặt đứt. Có thể nói là chúng quyết thực hiện triệt phá, hủy diệt để không còn bất cứ thứ gì con người có thể dựa mà sống.

Anh em tôi qua ánh sáng chập chờn của ngọn lửa , mò nhặt gom góp những nắm gạo , lát mì khô rơi vãi ngoài sân nhà mang vào  hầm trú ẩn, phân công cảnh giới địch, đãi sạn rửa gạo và khoai mì khô nấu cơm ăn với muối hạt và dành cho ngày hôm sau.                                                                                                                                                     

Lúc  gần đến giờ Giao thừa , nghe xa xa ở phía Quốc Lộ 1, lưa thưa tiếng pháo nổ, xen lẫn tiếng súng, tiếng mìn, lựu đạn Những đốm hỏa châu từ các cứ điểm quân đội ngụy túa lên  nền trời đen kịt…Lòng chúng tôi không ai nói với ai nhưng trong tâm khảm mỗi người trào dâng một nỗi buồn khó tả! Chỉ vì thương đồng bào, trong số đó hầu hết là những gia đình, những người đã từng quen biết ở vùng giải phóng  sau nhiều năm gắn bó. Nghĩ thương đồng bào vừa bị bắt gom đi chiều nay, sát Tết mà chúng cũng không cho được yên, sẽ sống ra sao trong những ngày tới?... Miên man suy nghĩ quên đi tất cả những gì nguy hiểm đang rình rập chúng tôi trong đêm và những ngày tới?

Một chiến sĩ hỏi tôi:” Tình hình nầy ngày mai anh em mình sẽ đi đâu?” Tôi bảo:” Giờ có trở lên núi cũng không được, Không khéo lên gò sẽ bị đánh, vì quân Mỹ luôn di chuyễn thay đổi nơi phục kích nhiều lần trong đêm, phải trụ lại dưới nầy vài ngày rồi sẽ tính tiếp , được ngày nào hay ngày ấy. Trên núi mấy ngày qua mình đã quá căng thẳng, nhiều phen suýt chạm súng với chúng…”

Chúng tôi sục trong góc vườn tìm được cuốc xẻng cùng nhau ra phía sau xóm nơi có những đám mì gần gò dân vừa xới cỏ đất còn mới . Chúng tôi đào một hầm bí mật giữa đám mì nơi

có bụi tre hoang còi cọc gần con đường mòn và bờ chiến hào  đã có từ lâu. Một vị trí mạo hiểm nhưng có tính bất ngờ hơn là đào trong những bụi rậm, hàng rào. Đất mới đào là cát, rải đều trong đám mì hầm sẽ không bị lộ.

Thiếu tá Đặng Thúy Hà – Thời trẻ

Đón Tết

Trời vừa sáng chúng tôi có chiếc hầm đủ cho 4 anh em chen chúc nhau trú tạm. Chúng tôi  ngụy trang miệng hầm và cùng nhau ngồi im cho tới khi trời sáng. Mồng một Tết, chúng tôi chia nhau gói cơm nguội và mì lát ăn trong bóng tối dưới hầm. Trong ngày đó ngồi dưới hầm mà nghe rõ tiếng trực thăng hạ rất gần, tiếng bước chân lính Mỹ đi qua không xa, Đột nhiên một toán quân Mỹ kéo đến đào công sự bên bờ chiến hào, cách chúng tôi gần trăm mét, tiếng sục sạo la hét , tiếng va chạm cuốc xẻng, tiếng bước chân rất gần …Nhưng chỉ vài giờ sau chúng lại di chuyễn đi nơi khác. Anh em tôi rất ngột ngạt song phải kiên trì chịu đựng suốt ngày cho đến sau 5 giờ chiều khi trời tối hẳn mới lên khỏi hầm dò dẫm trở vào xóm. Bốn giờ sáng hôm sau,  chúng tôi đã  xong cơm vắt và nước sôi cho vào những bi đông chuẩn bị ra hầm… thì đột nhiên nhìn quanh thiếu một người đó là Liễm, nhân viên phục vụ cơ quan Huyện đội. Không dám gọi, chúng tôi chia nhau tìm xem Liễm có đi vệ sinh đâu đó. Tình cờ nhìn trên bi đông nước, thắt lưng của Liễm có một mảnh giấy nhỏ ghi : …. “ Mấy ngày qua căng thẳng quá, nếu ở lại với các anh chắc khó sống, em đi về dưới đó, các anh ở lại cố gắng sống mà chiến đấu…mong các anh thông cảm cho em…” Súng Carbin và thắt lưng Liễm còn để lại nguyên. Tôi đọc xong mấy dòng chữ của Liễm thấy lúng túng bàng hoàng chưa biết xử trí ra sao khi trời đã hừng sáng. Các chiến sĩ đều bảo phải di chuyển đi nơi khác  chui rào rúc bụi gì đó cho qua ngày ít nguy hiểm hơn. Tôi đọc qua mấy dòng chữ của Liễm, tôi nghĩ, vì mấy ngày qua quá nhiều khó khăn, nó là lính đi theo mình chưa lâu , chưa trải qua chiến đấu nên nó hoang mang lo sợ, thực ra nó không phải là đứa phản, nếu cố tình chiêu hồi đầu hàng phản bội sao còn để lại nguyên vũ khí súng đạn. Dù sao vẫn thấy thương nó mà không oán giận. Mấy anh em cùng nhận định nếu có về dưới vùng địch, chắc nó đi chiêu hồi, dù có chiêu hồi nó cũng không nỡ khai ngay vị trí hầm của anh em mình. Nghĩ như vậy nhưng vẫn lo cho một sự rủi ro sẽ xảy ra vô cùng nguy hiểm … Trời sáng, không còn thời gian để suy tính. Chúng tôi quyết định trở lại trú vào hầm bí mật cũ. Để chuẩn bị đối phó cho khả năng xấu nhất, Trong bao cát chúng tôi sẵn có mìn Clay more, lợi dụng che khuất của lá mì dù trời đã sáng, trực thăng Mỹ đã bay lên. Tôi cho gắn kíp nổ điện cho hai quả mìn Claymore. Đặt hai quả mìn vào hai nơi trong bụi rậm quay hướng sát thương về phía miệng hầm bí mật cách miệng hầm khoảng 10 mét,  moi cát luồn dây điện xuống hầm, gắn vào hai máy điểm hỏa. Đó là sáng mồng hai Tết.

Bản đồ Đại Khoang

Ngồi dưới hầm chúng tôi đã chuẩn bị sẳn mỗi người 3 quả lựu đạn M-26, tháo khuy xâu vào cùng một đoạn dây thép như kiểu lính Mỹ ngồi trên trực thăng thường làm để rút ném nhanh, súng đạn lắp  đầy băng, lên đạn sẵn. Tôi nói rõ tình huống và phương án đánh tự vệ nếu Liễm khai báo đưa quân Mỹ lên khui hầm, phải hết sức bình tĩnh. Việc đầu tiên bao giờ chúng cũng sẽ từ ngoài xa gọi loa chiêu hồi, sau đó mới thực hiện hành động đào khui hầm. Chúng tôi chỉ đánh quả mìn đầu khi nào chúng tập trung ngay trên miệng hầm bắt đầu  đào bới. tiếp theo đánh quả thứ hai, thoát lên và đánh tấp nập lựu đạn về mọi phía chạy thoát ra các hướng, không chạy tập trung chung một hướng…. Dù đã có một phương án nhưng trong 3 anh em chúng tôi vẫn có những lo lắng. Suốt một ngày căng thẳng chờ đợi một cái gì sẽ đến…trong hầm chật chội lắng nghe từng tiếng động trên mặt đất, tiếng trực thăng hạ cánh, tiếng bước chân… Song,  đến xế chiều vẫn chưa có động tĩnh gì.  đến khoảng 4 giờ  chúng tôi thầm nói nhau:” Thế là Liễm nó không phản bội anh em mình “  Theo qui luật cứ khoảng tầm nầy quân Mỹ chấm dứt việc lùng sục, lo chuẩn bị vị trí trú đêm và phục kích. Tôi hé mở nắp hầm, dưới tán lá của đám mì xanh tốt quan sát mọi phía một hồi lâu. Tôi leo lên miệng hầm, bò lại gần bụi rậm ngồi quan sát mọi phía không có dấu hiệu gì. Tôi trở lại ngồi trên miệng hầm, không xuống hầm để cho anh em được hít thở không khí sau một ngày ngột ngạt. Thấy thèm thuốc, tôi cúi xuống bảo Khương bật lửa châm cho tôi điếu thuốc. Tôi vẫn chúi mặt xuống miệng hầm chờ . Khương vừa đưa cho tôi điếu Salem vừa châm lửa, nghe có tiếng động phía bờ chiến hào cách tôi chừng 30 mét. Tôi ngoái cổ nhìn đã thấy toán lính Mỹ da đen, da trắng ôm súng trong tư thế sẳn sàng chiến đấu đi dọc bờ chiến hào gần hầm chúng tôi. Tên lính da đen đi đầu với khẩu đại liên M-60, hai dây đạn đeo qua vai, va vào nhau theo nhịp bước đi, kêu sột soạt…Cũng nhờ tiếng động đó mà tôi kịp phát hiện chúng. Tất cả bọn chúng đều tập trung quan sát phía trước con đường gần vào xóm, tôi ngồi im không nhúc nhích, cũng nhờ bộ quần áo Ka-ki  quân phục bộ đội Miền bắc của tôi màu xanh lá rừng xen trong lá mì dày nên chúng không nhìn thấy. Tôi liếc đếm khoảng 20 đứa, áo quần mũ sắt của chúng dính bùn đất như vừa bò lết chui rúc đâu đó. Khi đội hình gần qua khỏi chỗ chúng tôi, một tên nào đó hét to :” Hurry up! “  cả bọn nhào lên chiếm bờ chiến hào đặt súng quay về phía làng. Tôi trụt nhanh xuống hầm đậy nắp lại, thầm thì kể lại anh em nghe những gì tôi vừa thấy, mấy anh em bàng hoàng suýt xoa,…may quá !  Chờ cho trời thật tối chúng tôi mới lên khỏi miệng hầm, quân Mỹ đã di chuyển đi . Chúng tôi bám trở lại xóm nhưng ở một nơi khác. Cũng tiếp tục cảnh giới và lo cơm nước. Quá nửa đêm, chúng tôi bàn nhau, tôi nói: ”Như vậy là qua một ngày, Liễm nó không khai báo địch đánh anh em mình là quí lắm rồi, chúng ta phải ra đi khỏi nơi nầy không được chần chờ…"

Khoảng lúc 3 giờ sáng, chúng tôi băng ra cánh đồng hoang nhích dần về phía núi dưới ánh sáng của những đốm hỏa châu Mỹ phóng lên. Cũng nhờ lợi dụng thứ ánh sáng ma quái này chúng tôi quan sát để di chuyển không chạm vùng phục kích của quân Mỹ.

Đó là mờ sáng mồng ba Tết. Chúng tôi đã trải qua nhiều cái Tết núi rừng, nhưng Tết nầy là cái Tết nghiệt ngã và buồn nhất, buồn vì cảnh đồng bào xóm nghèo bị bắt gom đi chiều 30. Có 4 anh em cùng nhau bao tháng ngày thì một đứa đã bỏ ra đi, không biết về vùng địch nó sẽ làm gì, nó đã không phản bội chúng tôi. Và trong 3 anh em còn lại sau ba năm, Chiến đi công tác ra Hoài nhơn bị khui hầm bí mật, không còn tung tích. Đến năm 1973, tôi được điều về tỉnh thì nghe tin Khương, người có quê ở xóm bắc Đại Khoang cùng Lẫm  trợ lý công binh  huyện đội (Lẫm bị quân Hàn bắt ở Núi Bà giữa năm 1967, khi chúng tôi trở lại núi Bà trong một cuộc va chạm với lính Hàn, Lẫm bị thương và bị bắt)  năm 1973 trao trả tù binh về tiếp tục chiến đấu, đi chôn mìn đánh xe Tank Mỹ ở chợ Long Định gần Đại Khoang sơ xuất mìn nổ, cả Khương và Lẫm đều hy sinh.

Không thể nào quên kỷ niệm buồn của một cái Tết đời lính ./. 

Thiếu tá Đặng Hà Thụy

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác

Danh sách liệt sĩ đã quy tập

  Tên chiến sĩ Quê quán
1 Nguyễn Xương Thái Bình
2 Nguyễn Văn Tuy Thái Bình
3 Phạm Văn Tuấn Thái Bình
4 Vũ Văn Tiến Thái Bình
5 Tèo Thái Bình