Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Thượng tướng Nguyễn Minh Châu, vị tướng mưu lược và giản dị

Cập nhật lúc 09:22 01/07/2018

Ông thường được gọi là “anh Năm Ngà” thân thiết vì ông gắn bó với chiến trường, chiến sĩ. Ông tâm sự: “Tôi thương yêu và quý trọng chiến sĩ quân đội ta nhất. Vì nếu không có chiến sĩ thì dù tướng có giỏi đến mấy cũng không sao đánh thắng quân địch được”.

Ông sinh năm 1921 ở xã Thái Bình, huyện ChâuThành, tỉnh Tây Ninh, đã trải qua các chiến trường khu 5, từ người chiến sĩ đến trung đoàn trưởng trong kháng chiến chống Pháp. Sau này, ông làm tư lệnh chiến trường gian khổ Quân khu 6, Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam, trưởng đại diện Bộ Quốc phòng tại phía Nam...

Từ trận tập kích đồn lầu Ông Hoàng đến bắt sống quan Năm Pháp Baroux

Trên đất Bình Thuận cát khô cháy nắng của cực Nam Trung Bộ hay giữa xã Hà Tâm huyện An Khê tỉnh Gia Lai của Tây Nguyên lộng gió, hàng loạt chiến công, trận đánh do ông chỉ huy còn truyền mãi cho thế hệ sau.

Tháng 6/1947, Nam Bộ kháng chiến được gần hai năm (từ ngày 23/9/1945). Lầu Ông Hoàng cách thị xã Phan Thiết khi đó 6 km là một căn cứ lợi hại của quân Pháp. Đại đội trưởng Nguyễn Minh Châu quyết định đánh kỳ tập vào đồn này.

Công tác trinh sát nắm địch luôn là mũi đi đầu. Trong đội ngũ làm công cho đồn, có một cơ sở tin cậy của ông. Lực lượng “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, được chọn hơn 10 cán bộ, chiến sĩ trong đại đội.

Đối phương có 40 tên trang bị một đại liên, 5 tiểu liên, 30 súng trường... Sau khi trinh sát nắm chắc, đêm 13/6/1947, ta cải trang thành sĩ quan, lính địch có nhiệm vụ đi tuần đến kiểm tra đồn.

5h sáng “đoàn kiểm tra” đến, lệnh cho đồn trưởng tập hợp lính trong đồn lại, không mang súng. “Viên quan ba” chỉ huy đoàn kiểm tra đưa thư cho đồn trưởng đọc. Khi đọc thư, đồn trưởng biết bị lừa, liền bị tiêu diệt. Ta chiếm gọn đồn Lầu Ông Hoàng trong vòng 15 phút, diệt và làm bị thương 32 tên, bắt sống 3 tên. Lực lượng trợ chiến và dân công kéo vào thu súng đạn, trang bị.

Chiến công kể lại ngắn gọn như vậy nhưng để có trận đánh kỳ tập này, đại đội mang tên Hoàng Hoa Thám do ông chỉ huy đã có nhiều tháng ròng nằm gai nếm mật, suy nghĩ tới lui để tìm ra cách đánh. Chiến thắng làm nức lòng quân dân tỉnh Bình Thuận và cực Nam Trung Bộ.

Bảy năm sau, người đại đội trưởng năm nào, nay là trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 của Liên khu 5 lại đánh trận Đắc Pơ (24/6/1954) một trận thắng để đời nữa.

Đây là trận vận động phục kích để tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 (GM 100), tiểu đoàn khinh quân 520 và một tiểu đoàn pháo binh của Pháp đang rút từ An Khê về phòng thủ Plây Cu, tại khu vực cầu Đắc Pơ, tây An Khê 15 km.

Ngày 23/6/1954, phát hiện quân Pháp rút chạy, Nguyễn Minh Châu đang chỉ huy Trung đoàn 96 chuẩn bị tiến công một cứ điểm trên đường 19, đã nhanh chóng chuyển hướng vận động đến khu vực cầu Đắc Pơ, bố trị trận địa phục kích trên đoạn đường dài hơn 3 km.

Ngày 24/6, khi đại bộ phận quân địch lọt vào khu vực quyết chiến, ta dùng cối, súng phóng bom sát thương, cùng lúc triển khai đánh chặn đầu, khóa đuôi, chia cắt đội hình, đánh phản kích kết hợp gọi hàng, sau hơn một giờ chiến đấu, diệt và bắt gần 2.000 địch trong đó có đại tá chỉ huy Baroux cùng toàn bộ ban tham mưu GM 100, thu và phá hủy hơn 200 xe quân sự, 20 đại bác, hàng nghìn súng các loại.

Chiến thắng Đắc Pơ tạo điều kiện cho ta làm chủ đường 19, giải phóng An Khê và phần lớn tỉnh Gia Lai, bao vây thị xã Plây Cu, góp phần đập tan âm mưu co cụm của quân ở Điện Biên Phủ, đẩy Pháp ngày càng lún sâu vào thế lúng túng, bị động.

Trận Đắc Pơ là một trong những trận đánh mẫu mực về mưu trí, anh dũng, tài chỉ huy, đánh tiêu diệt gọn, nắm bắt thời cơ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng đơn vị: “Các chú hoạt động có thành tích khá. Bác vui lòng thay mặt chính phủ khen ngợi các chú và thưởng trung đoàn vừa thắng khá ở An Khê huân chương kháng chiến hạng Nhất”. Kết thúc chống Pháp, Nguyễn Minh Châu chuẩn bị cho chặng đường mới: tập kết ra Bắc, trở lại Quân khu 6.

Tư lệnh Quân khu 6, "lấy chất lượng thắng số lượng"

Cuối năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc với cương vị Sư đoàn phó Sư đoàn 305. Năm 1962, ông được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 325, Quân khu 4.

Tháng 4/1963, được cấp trên cử về Nam làm Tư lệnh Quân khu 6 trong bối cảnh hết sức khó khăn. Ở đây địch mạnh hơn ta nhiều lần, luôn hành quân càn quét phong tỏa.

Quân khu 6 lại xa Trung ương cục, sự chi viện có mặt hạn chế. Nơi đây, 4/5 là núi rừng, dân cư thưa thớt, vùng dân tộc còn lạc hậu. Địa bàn Quân khu ở trải theo các tỉnh Phước Long, Quảng Đức, Lâm Đồng, Bình Thuận nối liền Nam Tây nguyên với Đông Nam Bộ và biên giới Campuchia.

Tư lệnh Nguyễn Minh Châu trong 6 năm ở đây đã hết sức quân tâm xây dựng chất lượng cả 3 thứ quân theo phương châm: lấy chất lượng thắng số lượng; tự lực tự cường, kết hợp chiến đấu, công tác và xây dựng...

Ông đã chỉ huy nhiều trận đánh, điển hình là trận Sông Mao 24/11/1968, trận tập kích của tiểu đoàn đặc công 200C phối hợp với hai đại đội đặc công và hai đại đội hỏa lực của các tiểu đoàn 840, 240 đánh căn cứ Sông Mao (huyện Hoài Đa, tỉnh Bình Thuận).

Đối phương có sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23, hậu cứ Trung đoàn 44, một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, một chi đoàn thiết giáp, một tiểu đoàn huấn luyện tân binh.

Đêm 23/11, ta tổ chức lực lượng thành nhiều mũi bí mật luồn sâu, áp sát từng mục tiêu trong căn cứ. 0h30 phút ngày 24 đồng loạt nổ súng, đánh chiếm hầu hết mục tiêu.

Trận đánh sau 40 phút loại khỏi chiến đấu hơn 600 địch, phá huy nhiều phương tiện chiến tranh, đạt hiệu quả cao, góp phần thể nghiệm cách đánh kết hợp đặc công và hỏa lực tiến công căn cứ địch.

Tháng 7/1969, ông rời Quân khu 6 lên Miền. Từ tháng 9/1969 đến 1975, ông làm Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng Quân giải phóng miền Nam.

Ông Lê Văn Hiền, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên quyền Chính ủy khu 6 nói: Công lao anh Nguyễn Minh Châu còn nhiều. Anh là một vị tướng có bản lĩnh vững vàng, để lại cho đồng đội kể cả lớp sau nhiều bài học quý giá. Đó là tác phong sâu sát, cụ thể, chịu khó nghiên cứu địch-ta, nghiên cứu chiến trường, luôn luôn suy nghĩ tìm cách đánh địch nhiều trận có hiệu quả cao. Coi trọng công tác tổng kết rút kinh nghiệm, bồi dưỡng nâng cao năng lực hành động, chỉ huy cho cán bộ...

Trong chiến dịch Đông Xuân 1974-1975, để tăng cường lực lượng cho đợt 2 trở đi, ta quyết định thành lập Đoàn 232 (tương đương cấp quân đoàn) vào tháng 2/1975 do ông làm tư lệnh, tướng Trần Văn Phác làm chính ủy, gồm 2 sư đoàn bộ binh số 3 và 5, lưc pháo binh 232, trung đoàn công binh 25 và một số đơn vị trực thuộc khác.

Từ 26-30/4/1975, đoàn 232 được tăng cường sư 9 tham gia chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh.

Ngày 30/4/1975, lực lượng của đoàn đã đánh chiếm Bộ tư lệnh biệt khu Thủ Đô, Tổng nha cảnh sát, bộ tư lệnh Hải quân và một số mục tiêu khác, góp phần xứng đáng vào chiến công chung của quân dân cả nước.

(*) Nội dung "Ba nhất" là: nhất về huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật; nhất về mặt gương mẫu, kỷ luật; nhất về lao động và sản xuất. Phong trào thi đua "Ba nhất" đã lôi cuốn các đơn vị trong toàn quân, mở rộng ra cả những đơn vị dân quân, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa bộ đội thường trực và lực lượng hậu bị, củng cố khối đoàn kết công - nông - binh.

Cuối năm 1976, trên cương vị Phó tư lệnh Quân khu 7, ông lên Tây Ninh kiểm tra tình hình biên giới, sau đó, tại buổi gặp cán bộ chủ trì các ban, ngành toàn tỉnh, ông đã phát biểu tâm huyết, trách nhiệm, vạch rõ: Biên giới, trên cả bình diện chính trị và kinh tế, quân sự và an ninh, cần có nhận thức đúng đắn, sâu sắc, tránh tư tưởng chủ quan, coi nhẹ. Đất nước qua 30 năm chiến tranh, nhiều vết thương chưa lành, nhưng nếu kẻ thù đẩy chúng ta vào bước đường cùng, hỏi chúng ta đã sẵn sàng chưa?

Ông còn đề nghị: “Các chỉ huy tỉnh đội, huyện đội phải xuống đơn vị siết chặt lại kỷ cương, kỷ luật quân đội, nâng cao ý thức, hành động sẵn sàng chiến đấu, kiểm tra lại các phương án chiến đấu, thế trận trên từng khu vực”.

Có cơ sở từ các nguồn tin ta phát hiện, thu thập được, ông dự báo về bản chất người cầm quyền ở bên kia biên giới và đề nghị lãnh đạo tỉnh có phương án với vùng nhạy cảm, dân cư tập trung cần có phương án phòng tránh tích cực, trước hết là cụ già, trẻ thơ. Lịch sử Tây Ninh đã ghi nhận tấm lòng của vị tướng.

Khi nổ ra chiến tranh biên giới Tây nam, dưới sự chỉ đạo tác chiến của ông, quân ta đã giải phóng thị trấn Snuol, tạo đầu cầu, đẩy địch phải lùi về phía sau, ta chiếm thị xã Kratie - vùng giải phóng đầu tiên, thuận lợi cho Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước của bạn Campuchia ra mắt ngày 2/12/1978 để mở ra con đường xóa bỏ chế độ diệt chủng, hồi sinh đất nước.

Trước đó, tầm nhìn, tính quyết đoán chính xác của ông đã thể hiện rõ nét ngay trong trận Đắc Pơ (1954) khi lãnh đạo Trung đoàn 96 thảo luận vì lực lượng ta ít hơn địch nên chỉ đủ sức tiêu diệt một bộ phận địch. Ông phân tích khoa học: Địch tuy đông hơn ta nhưng kém về thế, chúng hoang mang dao động rút chạy. Ta cần triệt để tận dụng thời cơ, bao vây, chia cắt, tiêu diệt lần lượt từng bộ phận.

Tận dụng địa lợi là cầu Đắc Pơ hiểm trở. Câp trên nhất trí với trung đoàn trưởng và Trung đoàn 96 do ông chỉ huy đã đem “lợi thế” đó vào trận, góp nên thắng lợi vang dội ở Khu 5 - Tây Nguyên, góp phần vào chiến thắng Đông Xuân 1953-1954 có Điện Biên Phủ lẫy lừng.

Nguồn gốc của thắng lợi

Ông được gọi là “vị tướng mưu lược và giản dị”. Mưu lược thì đã rõ qua nhiều trận đánh, qua tầm nhìn chiến lược để phòng thủ biên giới, giữ yên bờ cõi. Giản dị là đức tính xuyên suốt của ông, qua nhiều câu chuyện của đồng đội, đồng bào nhớ về ông.

Bắt nguồn mọi chiến công của ông là lòng yêu nước, thương dân. Ông sinh ngày 20/8/1921 trong một gia đình nông dân nghèo. Tuổi thanh nhiên của ông ngay đầu năm 1945 đã sôi nổi với hoạt động rải truyền đơn tuyên truyền chống Pháp, Nhật; trinh sát cướp vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa tại Kho 6 Xóm Chiếu bến cảng Lăng Tô (Quận 4, TP HCM).

Ngày 1/8/1945, ông gia nhập quân đội Nam Bộ kháng chiến, ông tham gia chiến đấu giữ cầu Thị Nghè, Hàng Xanh, Cầu Bông... qua các nhiệm vụ: lính trinh sát, tiểu đội trưởng, trung đội trưởng.

Chiến đấu mưu trí, dũng cảm như vậy. Và sống với dân với đồng đội trọn tình vẹn nghĩa. Khi đồng đội bị nghi ngờ, ông đã chân thành khẳng định đồng chí đó bị oan để trên rõ sự việc. "Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ", mảnh đất Khu 6 đã nuôi ông trưởng thành qua chiến đấu.

Là Tư lệnh Quân khu 6 rồi Quân khu 7, ông “là người chỉ huy rất thực tế, luôn bám sát thực tiễn, phong cách làm việc cụ thể, tỉ mỉ, nói ít làm nhiều. Khi xây dựng quyết tâm chiến đấu, ông đòi hỏi phải tính toán cụ thể, đến từng người, từng khẩu súng, từng cơ số đạn, từng gói bộc phá...

Trong chuẩn bị chiến đấu, ông trực tiếp dẫn cán bộ đi trinh sát thực địa, nắm vững địa hình, địa vật, bố phòng... Và ông có trí nhớ rất tốt, là Tư lệnh Quân khu, ông hầu như nhớ thuộc lòng địa hình trên địa bàn và đặc điểm các vị trí địch...”.

Ở Phan Thiết bây giờ, có một điểm du lịch thu hút khách là Di tích Chiến thắng Lầu Ông Hoàng. Tại đó có chân dung Nguyễn Minh Châu - người đại đội trưởng năm 1947, ảnh khẩu đại liên Vic-ke chiến lợi phẩm lớn nhất ở chiến trường Bình Thuận trong kháng chiến chống Pháp.

Cội nguồn sức mạnh của Tướng Nguyễn Minh Châu đã được khái quát chính xác trong bức trướng viếng ông của Cựu chiến binh Trung đoàn 812:

Theo Đảng, toàn tâm, say binh nghiệp

Vì dân, một dạ, rực chiến công.

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên nhớ lại: “Hình ảnh sâu đậm nhất, mãi mãi không phai mờ trong tâm thức những ai đã từng sống và chiến đấu cùng anh Nguyễn Minh Châu và cả những ai từng tiếp xúc với anh dù chỉ một lần là đôi quân hàm cấp Thượng tướng lấp lánh trên vai anh không hề làm mọi người e ngại, dè dặt khi tiếp xúc với anh, mà trái lại, họ coi anh là vị tướng của họ - “vị tướng của dân”, một danh hiệu thật tuyệt vời được quần chúng bình thường tôn vinh...

Anh thường nói: Cái bản chất của người dân không thể nào mất trong người mình. Cách mạng và Đảng giao cho mình chức vụ là để phục vụ nhân dân, vì nhân dân đó thôi. Cuối cùng, mình cũng là dân, “quan nhất thời, dân vạn đại” mà”.

Văn Tuấn (Báo Đất Việt)

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác