Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Trở về Củ Chi

Cập nhật lúc 14:23 23/11/2018

Bốn mươi tư năm sau, chúng tôi - những người lính Sư đoàn 320 ( Đại đoàn Đồng Bằng ) lại trở về Đồng Dù lần nữa. Lần này chúng tôi về đây để xây dựng nhà bia tưởng niệm những người lính đã hi sinh trong những trận đánh vaò căn cứ Đồng Dù và những đồng đội chúng tôi đã hi sinh ở trận cuối cùng 29.4.1975. Chúng tôi sẽ gặp lại bạn bè tôi mãi mãi tuổi 20 trên cửa mở đồng Dù. Tôi treo bài viết từ năm 2013 lên để thêm một lần trở lại với CỦ CHI YÊU DẤU.

 Xe tăng và bộ binh f320 mở cửa tấn công Đồng Dù sáng 29/4/75

Chúng tôi trở lại Đồng Dù vào ngày 10/5/1975. Thực ra chỉ có trung đoàn tôi trở lại đây muộn như thế còn các E 48, E9, E54, trung đoàn công binh 7 và các đơn vị trực thuộc cùng sư đoàn bộ đã ở đó ngay từ ngày đầu tiên giải phóng. Vì đi phối thuộc với Sư đoàn 10 đánh vào Bộ TTM VNCH nên Trung đoàn tôi mới có cơ may đánh tới dinh Độc Lập rồi ở đó tới ngày 6/5 thì kéo về đội hình ở Củ Chi cách Đô Thành 30 km. Chiều 6/5 đến Tân Phú Trung thì dừng lại tổ chức trận tập kích truy diệt bọn tàn binh chừng trăm tên trong ấp bàu Trâm .

Khi về tới Đồng Dù phải qua ba bốn lần chuyển quân trong 2 ngày trời mới điều chỉnh xong vị trí. Khiếp , căn cứ cũ của sư 25 "Tia chớp Nhiệt đới " rộng quá. Những 8 ki lô mét vuông bằng đúng khu gang thép Thái nguyên thời ấy. Điện nước trường trạm đủ... tận răng. Vườn hoa cây cảnh xanh ngời. Các con đường trong căn cứ trải nhựa như phố xá. Tôi lại thấy ở đây rất nhiều những lùm hoa Giấy thứ hoa cánh nhỏ mong manh đỏ rực dưới nắng. Ở rừng mới về, sống trong một khu lính Mỹ cũ nhìn cái gì cũng lạ cũng thích cứ như mình đang sống ở nước ngoài vậy. Mãi về sau này càng nghĩ càng thấy mình ấu trĩ vô cùng. Chả cứ gì lính, đến mấy ông cán bộ cũng tò te trước các trang thiết bị quân sự hiện đại, trước tiện nghi dân sự tân kì. Việc làm được đáng “ nể “ nhất của lính là phá phách những đồ dùng sang trọng mà không phù hợp với đời sống chiến đấu , sau nữa là vất bớt tủ giường sa lông .. thậm chí cả quạt điện cũng không được dùng riêng . Thu gom lại cả hàng đống quạt bàn nộp lên E , những đồ lấy được trong kho quân tiếp vụ cũng ùn ùn nộp E . Chúng tôi bắt đầu làm lấy giường nằm theo gu của lính . Dỡ trần nhà lấy ván ép làm giường để rồi tự mình chịu cái nóng Củ Chi hầm hập … Buồn cười thế, chả cái dại nào giống cái dại nào. Bao lâu nay đói, bây giờ được ăn uống đầy đủ tôi lên cân vù vù . Chỉ sau hai tháng lên được 6 kí. Cái thằng da nhẻm như tôi mà nước da sau 2 tháng cũng ưng ửng lên. Tôi chả mơ ước gì lúc này tôi chỉ nhớ mẹ, nhớ ruộng đồng, nhớ sách học trò và chỉ muốn ra quân. Ước mong được ra quân cháy bỏng ruột gan .

Chuyện trở về Củ Chi không phải là để kể chuyện phá phách trong căn cứ Đồng Dù. Kể chuyện đó biết bao giờ hết cười hết buồn.Tôi muốn kể về con người Củ Chi về những ngày tháng sống với đồng bào Nam bộ, về những suy nghĩ của mình với tuổi trẻ với đất Củ Chi củ miền Nam mới giải phóng .

Lần đầu tiên trong đời tôi nghe tới cụm từ ‘Gia binh“. Tất nhiên là tôi hiểu ngay gia binh là gì. Nơi chúng tôi tiếp quản từng vị trí cấp C, đều là trong gia binh.còn bếp ăn và khu D bộ ở nhà vòm của lính cũ. Đây đó ngổn ngang bát đĩa áo quần nồi niêu, ngổn ngang tủ giường đồ dùng gia đình.
Đêm 10/5/75 tôi dọn dẹp nơi ở của mình, dọn dẹp thì ít mà ngồi xem sách vở giấy tờ thì nhiều. Trở về đây tôi ngợp trong sách vở mà 4 năm qua thiếu đói. Tôi đọc ngốn ngấu như kẻ ốm dậy ăn giả bữa. Hầu như mỗi ngày tôi đọc một cuốn sách. Lần đầu tiên tôi đọc những cuốn sách giáo khoa miền Nam. Lần đầu tiên tôi được xem những bài viết của học sinh trung học ở chế độ VNCH. Cứ ngồi lặng đi đọc các bài luận của học trò. Cũng vẫn là những bài dậy cho trò lòng yêu nước, hiếu đễ với mẹ cha. Cũng là những bài ca ngợi tổ quốc ta tươi đẹp. Cũng vẫn là những bài máu đỏ da vàng. Ngạc nhiên hơn cả là trong cuốn " Mười Khuôn Mặt Văn Chương " của Tạ Tỵ thì viết hầu hết về các nhà văn miền Bắc. Ngạc nhiên nữa là bài thơ Đồng chí của Chính Hữu cũng có trong chương trình văn khoa. Đêm ấy cứ bâng khuâng, đêm ấy cứ nhìn nét chữ của đứa trò nào đấy con của binh sĩ VNCH trong cuốn tập và nghĩ bây giờ nó đang ở đâu? liệu nó có được đi học lại không?

Nhìn những nồi niêu vung vãi nhìn những bộ áo quần chưa kịp gói ghém chạy loạn mà lũ chúng tôi cứ bần thần. Tôi có cảm giác buồn buồn có lỗi. Lạ thế. Hồi ấy tôi rất kiêng kị dùng một thứ đồ gì trong vô vàn đồ dùng ở khu gia binh. Đêm, nằm trong căn cứ, khuya lắm vẫn nghe tiếng Hon da è è ngoài xa và khi bình minh ưng ửng là tiếng xe bên ngoài hàng rào rộn rã. Gần bốn mươi năm nay cứ khi nào nghĩ tới miền Nam là tôi lại nghe bên tai tiếng xe máy lúc trời sắp sáng bên ngoài căn cứ Đồng Dù Củ Chi .

Chúng tôi lao vào ổn định chỗ ở, ổn định tư tưởng được mươi ngày thì có lệnh hành quân di chuyển. Lại tất cả trang bị vũ khí và cơ sở vật chất chuyển đi. Nơi chúng tôi đến là xã Phú Hòa Đông và Nhuận Đức . Thì ra để đề phòng Mỹ sẽ có thể đánh quay trở lại nên các căn cứ cũ đều phải cách li bố trí thế trận của mình. Chúng tôi đóng quân ở bờ sông Sài Gòn cả ở nhà dân và làm lán lợp mái tôn trong rẫy hoặc ngoài đồng. Mới gần một tháng thôi mà nay quay về với cuộc sống cũ lính đã thấy khổ, thấy chán nản thế . Quen với gian khổ thì lâu nhưng quen với an nhàn sung sướng thì nhanh thế.

Bốn năm nay mang tiếng đi chiến đấu ở miền Nam đã bao giờ tôi ở cùng với dân Nam bộ một ngày. Chúng tôi cứ lặn lội trên rừng trên cứ. Bây giờ, tận mắt thấy cuộc sống của họ. Người Củ Chi chịu đựng gian khổ đến phi thường. Cố hình dung cố tưởng tượng cũng không thể hiểu nổi, làm sao mà họ vượt qua được những ngày Mỹ càn quét với đủ quân binh chủng với hàng chục hàng trăm ngàn lính. Suốt một dải Phú Hòa Đông lên Nhuận Đức, Phú Mĩ Hưng, An Nhơn Tây... không thấy một ngôi nhà cho ra cái nhà. Chỉ thấy cỏ hoang lau lách và lục bình hoang tím. Mươi ngày nay bà con đang lục tục kéo về làng cũ . Chúng tôi mắc võng ngoài vườn một gia đình nông dân hai vợ chồng chừng bốn mươi tuổi. Trong căn nhà tuyênh toang lợp lá dừa ấy có một cái giường độc nhất cho người vợ ốm nặng còn người cha và hai đứa con mắc võng vào những cây cột chôn xuống đất. Tôi mắc võng vào hai cây trứng gà nằm nhìn những con ong bu lên những trái cây rơi dập vỡ vàng ươm dưới đất. Nghe tiếng rên của người đàn bà ốm não nề. Sao giống người dân quê mình đến vậy ? Rồi tôi hỏi, trẻ con ở đây không có trạm xá à ? Lũ trẻ không hiểu trạm xá là gì, tôi giải thích mãi chúng à à .. nhà thương. Lấy đâu tiền đi nhà thương hả ông Giải phóng ? Chiều mưa. Tôi vẫn nằm võng ngoài vườn. Nước tom tom trên mái tăng. Ngó mấy con gà gầy sơ sác trú mưa dưới gầm võng buồn ghê. Tôi nhớ nhà muốn bay về ngay miền Bắc. Chợt có tiếng rên rẩm. " Thằng Hai kêu mấy ông vô nhà nằm, nằm ngoải mắc ốm quá." Thì ra người đàn bà ốm đau đang thương chúng tôi ngoài mưa . Mưa cứ ầm ầm, tiếng người đàn bà chìm vào sấm chớp .

Hôm sau, đến giờ nghỉ trưa tôi chạy bộ ngược lên phía đằng bờ sông Sài gòn. Tìm bạn tôi là y tá C24 vốn trước khi đi bộ đội là sinh viên năm 3 y khoa. Tôi bảo Sỹ, mày có thuốc bổ không mày xuống tiêm cho bà chủ nhà tao mũi, nhà ấy không hề có viên thuốc nào. Sỹ cũng gói kim tiêm rồi giữa trưa nắng chạy theo tôi. Tôi cũng không ngờ gia đình nhà chủ tôi lại xúc động đến thế. Sỹ tiêm cho chị ấy ống B12 “nước rau dền”rồi kéo tôi ra. Tao về đây. Nó ngoái vào, chị ơi chị cố ăn cho chóng khỏe, em về. Ra đường nó bảo tôi, bà ấy chả sống được đâu, gan cổ chướng đấy. Rồi nó đi như chạy sợ về muộn đơn vị lại cho là mò vào nhà dân tụt tạt. Cũng hôm ấy tôi thấy người đàn bà bệnh tật ấy ngồi dậy mà nói, cả đời tôi bây giờ tôi mới được chích mũi thuốc, thấy người khỏe liền. Trưa ấy nắng lắm. Tôi nằm võng nghe trái trứng gà chín nũm rơi bình bịch. Mấy đứa trẻ ngồi gốc cây ngó tôi thật lạ. Chiều tối nghe hai vợ chồng nói chuyện với nhau, người vợ bảo hổng biết ông giải phóng chích thuốc chi mà tui thấy khỏe lẹ vậy ông à. Lại nhớ lời thằng Sỹ nói hồi trưa… chả sống được đâu . Thấy buồn quá. Bao nhiêu người dân hi sinh hết cho cách mạng không tính đếm cả thân xác mình đến lúc sắp chết vẫn không hề biết viên thuốc mũi tiêm. Ấy vậy mà bao nhiêu thuốc men gom được đều ủng hộ hết cho quân giải phóng ngoài cứ cách mạng

Hai tuần sau chúng tôi lại kéo quân về Đồng Dù. Lại bắt đầu ngày thao trường tối hội họp bình xét. Nhóm đi tập duyệt binh, nhóm đi quay lại Tây Nguyên tìm hài cốt qui tập đồng đội, có cả nhóm đi quay lại Tây nguyên đóng phim cả hai tháng trời, lại có cả bọn đi tăng gia ......Lính thì bận kiểu lính cán bộ bận kiểu cán bộ . Cắn cứ Đồng Dù ngoài Sư đoàn tôi còn thêm cả E công Binh 7 cả D xe cơ giới quân đoàn và một E pháo binh 1 e pháo phòng không quân đoàn nữa . Đông nghịt người và đêm đêm đèn điện sáng như phố phường . Khu gia binh giờ phá hết những dãy bếp những mảnh vườn chỉ để trụi thùi lụi những ngôi nhà ở đập thông tường nối với nhau dài dằng dặc . Tháng 6/75 đội văn nghệ Sư đoàn được thành lập. Tôi cũng được gọi lên đó tập tành gấp rút trong nửa tháng để rồi đi biểu diễn với bà con trong huyện Củ Chi. Lúc này nhạc cụ lấy được của đoàn quân nhạc trong Đồng Dù nhiều lắm. Chả có trình độ mà chơi những loại nhạc cụ cao siêu, lính chỉ lấy ghi ta, trống và chũm chọe lùng bùng lèng phèng suốt ngày. Mới giải phóng nên đội Văn nghệ được cưng lắm. Diễn viên toàn lính cũ dưới đơn vị hồi trên Tây nguyên . Qua chiến dịch đã hi sinh mất vài đứa, lại gọi bổ sung dưới đơn vị lên. Một tối chúng tôi đi diễn dưới Tân Qui . Đang lúc hợp ca hát "Bác cùng chúng cháu hành quân" nghe cái bịch trên sàn gỗ sân khấu . Bà con la ré lên chúng tôi nằm bẹp ngay xuống sàn. Quả lựu đạn không nổ. Lí do thật đơn giản lựu đạn chưa rút chốt . Đêm ấy cuộc diễn vẫn không dừng lại. Du kích dàn hàng ngang đứng kín sân khấu còn các má thì bảo các con không sợ các má có chết cũng bao bọc được các con . Tới tiết mục của tôi , tôi hát bài " Mẹ vẫn đào hầm" mà nước mắt cứ đầm đìa . Các mạ thấy chúng tôi khóc cũng khóc. Quanh tôi , cả dưới bãi cỏ kia chỉ thấy toàn cụ già , trẻ nhỏ và du kích . Thanh niên đâu không thấy ? Chúng tôi hát trên mảnh đất mà chỉ hơn một tháng trước là khu dày đặc những lính CH những bom và pháo, xa vài năm trước dày đặc những là lính Mỹ , chúng tôi hát trên một vùng du kích nhiều bao nhiêu thì ác ôn của địch cũng nhiều bấy nhiêu . Chúng tôi hát trên vùng đất trắng bạc đất và lá cây khô rang mà giặc Mỹ đã càn quét bằng đủ quân binh chủng có tới vài chục ngàn quân hàng tháng liền , đốt sạch phá sạch. Thế mà người Củ Chi vẫn sống , vẫn chiến đấu vẫn yêu tiếng hát . NGười Củ Chi chiến đấu thật kiên cường và sống thật mãnh liệt , sống vô cùng nhân hậu.

Mùa mưa miền Nam lại đến . Những trận mưa gõ trên mái nhà tôn ầm ầm , mưa rất to và nhanh . Ngồi trong nhà nhìn ra sân , bong bóng phập phồng trôi ào ạt rồi ùa xuống những giao thông hào cũ . Trong Đồng Dù đâu cũng thấy vườn hoa cây cảnh thật là đẹp . Có một thứ hoa vàng gọi là hoa đai vàng mùa mưa lá xanh mướt . Những vòm hoa giấy rực đỏ đến sáng cả con đường vào từng doanh trại cũ . Mưa chỉ vào buổi chiều tựa hồ đó là trận tắm rửa cho một ngày bụi bặm . Chúng tôi thích những trận mưa như thế , chúng tôi gọi là mưa miền Nam .
Ở Đồng Dù có nhiều cổng ra vào. Cổng chính đối diện với con lộ 15 đi tắt xuống Tân Phú Trung về hướng Sài gòn. một cổng phía ngoài Phú Hòa Đông và một cổng nhỏ đi ra rừng cao su Tân an Hội bây giờ. Nhưng có hai cổng nữa mà ít ai dám đi qua là hai cửa mở quân ta đánh vào hôm 29/4. Cửa mở của E9 phía Trung Lập xuống ngay trong tháng 6 đã rào lấp lại còn cổng cửa mở e48 thì vẫn để nguyên mà chả ai dám đi qua. Mấy chiếc xe tăng cháy nằm đấy, bao nhiêu là mũ cối quân trang của bộ đội bê bết ướt nhèm ở đấy. Mìn của địch vẫn dày đặc lại thêm vọng gác của E7 công binh ở những lô cốt đầu cầu nên chúng tôi không bao giờ ra ngoài bằng lối đó. Thế mà lính ta vẫn ra ngoài căn cứ được . Bắt đầu là mấy thằng công binh 17 , chúng nó dò gỡ mìn theo lối gần nhất ra ấp Bắc Hà. Các hàng rào thép gai dược chống lên một lỗ to bằng cái thúng . Ra vào đều phải ngụy trang để cán bộ không phát hiện ra. Cửa bên trong giáp với đơn vị chúng nó lăn một cái thùng phuy bẩn ép vào lỗ thủng chỉ cần lăn cái thùng ra một tí là chui vào lối ấy bò theo cỏ tranh mà ra ngoài ấp. Lối đi ấy hình tròn đường kính bằng cái thùng phuy, quân ta ra vào bò như một đàn thằn lắn. Bao nhiêu cuộc tình , bao nhiêu sự làm quen và gắn bó cho lính và đồng bào Củ Chi bắt đầu từ đó. Năm 1993 tôi và Nguyễn Công Thành bạn tôi trở về Củ Chi. Sau một hồi trình bày với anh em vệ binh Sư đoàn 9 ( phải đưa cả thẻ nhà báo của Thành ) mới được họ cho vào. Đến cái chỗ có lối chui ra ngoài bây giờ là một vườn keo rất đẹp Thành bảo tôi, Chỉ có cái lỗ chui như của chuột mà tao cõng được cả một cái lu đựng nước ra tặng bà già người yêu ngoài ấp Bắc Hà. . Nó cười xa xăm nhìn ra chóp nhà thờ Bắc Hà ló trên ngọn keo xanh mướt mát. Hồi ấy vợ nó là một cô bé ngoài Bắc Hà mới 16 tuổi bán nước mía ngoài đường Tám. Chúng nó yêu nhau rồi bây giờ thành ông nội bà nội ở Sài gòn. Đồng Dù điểm kết thúc cuối cùng cuộc chiến của tôi nhưng lại là điểm bắt đầu nhiều cuộc hạnh phúc trăm năm của bao người lính bạn tôi. Củ Chi như một ân tình bất ngờ mà thượng đế ban xuống đầu những chú lính 320A ngày ấy .

NHững ngày tháng 6,tháng 7 năm 1975 Khi ở đội Văn Nghệ Sư đoàn chúng tôi được ăn ở trong Tổng Hành Dinh của Lý Tòng Bá . Một điều rất dễ nhận thấy là ở đây rất nhiều hoa Sứ và các lư hương khổng lồ bằng đá, rất nhiều những tấm bia xây rất đẹp có biểu tượng tia chớp giống y như tia chớp ở các bảng điện trạm điện bây giờ . Lí Tòng Bá có hồi làm Sư đoàn trưởng sư đoàn 23 trên Cao Nguyên . Ông ta có một cô vợ người Tây Nguyên . Và vì thế trong tổng Hành Dinh Bá giành riêng một vùng làm nhà sàn và cây cối Tây nguyên. Hồi ấy những đàn sóc , tắc kè và cả cầy hương cũng nuôi trong khoảnh vườn thật là đẹp ấy .Kề khu vườn có cái máng cỏ chúa sinh ra đời mà đèn nến khung cảnh huyền diệu ấy là khu ở của đại đội lính trinh sát mà Bá rất cưng chiều. Chúng tôi ở trong khu nhf cũ của đại đội trinh sát đó. Hàng ngày ngắm nhà Cao nguyên của tướng Bá mà cũng thấy nhớ Tây Nguyên thật . Chiều chiều chúng tôi ra ngồi chân cột cờ ba vòng tam cấp rất cao nhìn về phía tây bắc . Ngọn núi Bà Đen phía Tây Ninh xanh sám tít xa . Những lúc ấy tôi cứ nghĩ tới ngọn Ba vì ngoài Bắc khi tôi ngồi trên tàu hỏa về quê mỗi kì nghỉ hè . Chúng tôi ngồi đó mơ ngày về , mơ rằng cuộc đời sẽ thật lương thiện và ấm êm .

Đồng Dù sau hai tháng biết bao nhiêu đổi thay . Quân đi quân về liên tục . Khách viếng thăm cũng nhiều vô kể . Hết đoàn Văn công này Nghệ thuật kia vào biểu diễn cho chúng tôi xem . Bao nhiêu tán dương bao nhiêu là khen tặng ngập tràn hân hoan và địa chỉ trao nhau . Tất cả mọi thứ đó tan nhanh lắm . Chả ai người ta nhớ đến những người lính nhỏ nhoi như mình mãi được . Chả người lính nào mà lại chiếm được phần lớn con tim của những người ngoài cuộc đang rạo rực ban phát xúc động cho lính .
Xúc động của lính chỉ người lính có .
Dẫu yêu thương người lính đến mấy cũng không thể có suy nghĩ của lính . Chỉ còn chúng tôi hát cho nhau nghe , diễn lại những trận đánh mình đã qua . Diễn : thực ra chỉ làm nguyên si những gì mình đã làm trong chiến đấu vậy mà ngồi xem với nhau cũng khóc . Khán giả khóc . Diễn viên khóc , lính khóc cán bộ khóc . Thì ra trên đời chả ai nói thay được cho mình chỉ mình nói cho mình thôi , chỉ mình mới biết mình trung thực đến ngần nào thôi với đời , mà trước hết là phải trung thực với chính mình .

Đã qua ba tháng sau Giải phóng. Đã có một đợt quân mới nhập ngũ tháng 4/75 bổ sung về đơn vị , đã có một số anh em có văn hóa lớp 10 đi học Sĩ quan ngoài Bắc . Đồng Dù vẫn nhộn nhịp một cuốc sống lấp lánh chiến công . NHưng tôi biết đã bao nhiêu là nước mắt của đồng đội tôi sau nhiều năm bây giờ mới nhận thư gia đình . Nhiều oái oăm tình cảm bắt đầu xuất hiện trong lính . Mấy anh lính già 67, 68 khóc vì vợ đã phụ mình. Nhiều anh khóc vì được tin mẹ cha đã mất . Còn tôi , tôi chả có gì mất. Tôi lại đang sống nhàn nhã hơn anh em chỉ viết lách và múa hát. Mỗi lần về lại A trinh sát của mình cứ thấy như mình có lỗi bởi thấy anh em đen cháy lại sau nhiều ngày bám địa bàn ngoài dân, thấy chúng nó thở dài mong ngày ra quân mà vẫn mịt mù .

Một tối chúng tôi diễn cho đồng bào Tân An Hội . Đây là thị trấn Củ Chi nên khán giả rất đông , rất nhiều học sinh đại học và trung học xem . Đêm ấy , chúng tôi không thành công . Mấy hôm sau tôi ra thị trấn, họ nhận ra tôi và cũng hôm ấy tôi được mấy thanh niên Thị trấn mời về nhà . Họ chỉ cho tôi xem bộ nhạc cụ trong nhà , nào là ghi ta điện , dàn trống hiện đại . Thấy tôi bần thần đăm chiêu một cậu bảo tôi, anh hát đi . Hát gì bây giờ ? chả nhẽ lại Bác cùng chúng cháu hành quân , lại Đêm trường sơn .. . mà hát nhạc vàng thì không dám vả lại cũng không biết nhiều . Thời đi học đại học chúng tôi hay hát những bài hát Nga và châu Âu, thế là hát . Tôi hát trở về Su ri en tô rồi hát Pa lô ma. Từ lúc ấy họ nhìn tôi rất khác. Bộ đội mà cũng biết hát những bài này à? Tôi bảo các bạn chơi bài Sóng sông Đa nuýp đi ! họ tròn mắt . Thì ra bấy lâu nay thanh niên miền Nam cho rằng lính miền bắc đâu có hát được những bài hát châu Âu ấy. Còn tôi. Bấy lâu nay tôi cứ tưởng họ cũng chỉ biết hát nhạc vàng rên rỉ mà thôi.
Chúng tôi nhìn nhau ngạc nhiên rồi chợt hiểu ra con người hai miền vẫn chỉ là một, chỉ có điều họ và tôi đang sống trong hai hoàn cảnh khác nhau mà thôi . ..

Tôi quen với Thái và Tùng ở ấp Đông Tân An Hội từ ấy . Chúng tôi cứ tìm thời cơ để ra Củ Chi bù khú với nhau . Rồi chúng tôi quên mất chuyện tôi là lính còn Thái và Tùng đang là học trò chưa hết tú tài . Hồi ấy chưa biết uống bia ( lade) hay rượu . Thế mà lần nào tụ tập với nhau cũng phê . Tùng mới cỡ 15 tuổi mà đã bảo tôi , chừng nào anh về Bắc em chạy honda theo xe các anh ra Bắc chơi . Tôi cười , coi sự chú này nói là không tưởng . Rồi tôi về Bắc , ngày rời Đồng Dù Thái và Tùng không biết . Tôi có thư cho Tùng năm 76 , 77 và cũng nhận được thư em . Rồi cuối năm 77 không thấy thư từ gì nữa . tháng 3/78 tôi nhận được lá thư có tấm ảnh Tùng là bộ đội đi K rồi biệt đến bây giờ . Đã nhiều lần qua thị trấn Củ Chi toàn ngồi trên xe , toàn là du hí rồi vội vã quay về Sài gòn nhậu nhẹt . Củ Chi thật gần mà thật xa . Mình đã thành kẻ vô tình từ bao giờ vậy ? Viết đến đây bỗng tự thấy mình xấu hổ .

Mỗi lần trở về Củ Chi là " rạo rực nhớ tà áo trắng sân trường" . Cái câu nói này với tôi, tôi chỉ thấy ở Củ Chi. Bởi lần đầu tiên vào tháng cuối 9/1975 tôi được dự khai giảng của trường Trung Học Củ Chi. ( Buổi khai giảng hôm ấy lần đầu tiên tôi nhìn thấy thứ trưởng bộ Giáo Dục Võ Thuần Nho đến Củ Chi dự buổi khai trường)
Suốt buổi hôm ấy tôi nhìn các bạn học sinh kém tôi ba bốn tuổi mặc áo dài trắng phơi phới sân trường. Sau này cảnh ấy thật nhiều nhưng không còn xúc động với tôi như lúc còn ở Củ Chi nữa. Lúc ấy tôi cứ nghĩ, trong rừng người trong sáng kia cái xấu làm sao len lỏi vào được (!) . Hôm ấy tiếng trống trường khai giảng ở Củ Chi âm âm. Nó âm âm gọi hồn tôi tới bây giờ.

Trở lại Củ Chi mỗi lần là lại ngửi thấy mùi bánh tráng và nhìn khói bếp trong xóm lên hơi . Dẫu đi từ Bắc vô Nam cứ đến Củ Chi lại mua dưa leo để ăn . Lại muốn mang về Bắc lọ bột tôm vàng óng chấm sắn luộc vào đêm mùa đông.

Trở lại Củ Chi là lại đứng trên cầu An Hạ nhìn cánh đồng lúa thăm thẳm để bừng lên lửa khói của trận đánh xe tăng trưa 29/4 và cái đồn Cảnh sát đầu cầu vắt oài ượt những xác lính trong trận mưa chiều hôm ấy . Sao mà Củ Chi nhiều hoa lục bình đến thế ? đến bây giờ vẫn nhiều, cứ tím cả cánh cào cào làm sôn sao cả nắng hè .

Trở lại Củ Chi để đi giữa hoa. Sao mà Củ Chi nhiều hoa giấy thế ? con đường xuyên Á gọi là đường Hoa Giấy đi thôi Củ Chi ơi. Tôi đi trong miên man hoa giấy mà nhớ bạn tôi gục xuống hôm nào. Ngày ấy hoa giấy cũng rực rỡ như hôm nay .

Trở về Củ Chi để thấy mình đã lớn, đã sống tốt với đời. Những người tôi gặp hôm nay chả ai biết đến tôi . Tôi ghé vào cổng Đồng Dù , phía sau cổng gác xanh ngát như ngày xưa , người lính gác nhìn tôi vô cảm như thấy một lão nông thất thường tính nết thấy lạ thì há mồm nhìn ngắm . Tôi chợt nhớ cái khẩu pháo 175 nằm ngay cổng tan hoang ngày 29/4 đã xa . Tôi tin các bạn tôi ngã xuống ở Đồng Dù vẫn nhớ tôi. Dụi mắt nhìn dòng chữ Doanh trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thấy chập chờn các bạn lính e48 e9 và cả đứa bạn chăn trâu của tôi ở D16 đang cười .

Trở về Củ Chi để hi vọng gặp những đứa trẻ đã nghe chúng tôi hát ngày xưa, hi vọng gặp các bạn Thái Tùng ở ấp đông Tân An Hội lại ngồi hát như mùa hè năm 1975 rợp hoa và cờ đỏ.

Trở về Củ chi là trở về với đơn vị của mình bởi tất cả đồng đội vẫn đủ biên chế đội hình trên nghĩa trang An Nhơn Tây. Củ Chi ơi ! Tôi trở về đây. Trở về Củ Chi là tôi về với tuổi trẻ đời mình

Nguyễn Trọng

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác