Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Trung tướng Nguyễn Phúc Thanh - Người chỉ huy đánh đâu thắng đấy (Kỳ 3)

Cập nhật lúc 15:27 08/03/2018

Cuộc chiến tranh xâm lược của Đế Quốc Mỹ đã bước sang năm thứ 3. Qua hai mùa khô 1966-1967, chúng bị thất bại nặng nề và thương vong lớn, buộc chúng phải xuống thang tiến thoái lưỡng nan, đồng thời chúng cũng bộc lộ, xuất hiện những điểm yếu kém sơ hở; đó là ở các thành phố lớn, nhất là thành phố Sài Gòn, Đà Nẵng và thành phố Huế, lực lượng ở đây rất mỏng. Chủ trương của ta là trong dịp tết Mậu Thân 1968 này sẽ tiến hành cuộc tập kích chiến lược Tổng tiến công và nổi dậy đánh vào các thành phố lớn, tập trung đánh vào các chỗ sơ hở, mỏng yếu của chúng.

Kỳ 3: Người chỉ huy đánh đâu thắng đấy

Bước vào chiến dịch Tết Mậu Thân tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, tôi chính thức được đề bạt lên đại đội trưởng và được điều động đảm nhiệm đại đội trưởng đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 9. Trong trận chiến đấu này, đại dội 6 và đại đội 7 trung đoàn 9 có nhiệm vụ đánh chiếm Dinh Tỉnh Trưởng Thừa Thiên Huế trên đại lộ Trần Hưng Đạo “gần Trường Đồng Khánh”. Địch bố phòng ngủ ở đây rất cẩn mật và kiên cố, cửa ra vào có hai cửa lớn. Cửa chính trên đại lộ Trần Hưng Đạo đối diện nhìn ra phía sông Hương, cửa phụ nghoảnh ra đường Nguyễn Trường Tộ (gần ngã 6). Tôi được phân công trong đoàn cán bộ được đi trước nghiên cứu kĩ lưỡng từng hướng cửa ra vào căn cứ Dinh Tỉnh Trưởng. Mục tiêu nằm sâu trong sào huyệt địch, có 3 hàng rào dây thép gai, tổ chức tuần tra canh gác suốt ngày đêm rất chặt chẽ nghiêm ngặt. Cách đánh trong trận chiến đầu này qua nghiên cứu hướng tiến công chủ yếu tốt nhất là bất ngờ táo bạo đánh thẳng vào theo hướng cửa chính trên đường Trần Hưng Đạo. Tận dụng yếu tố bất ngờ, sự đi lại lộn xộn của chúng trong dịp Tết rất chủ quan, tập trung tăng cường hỏa lực kịp thời chi viện và phải chuẩn bị lượng bộc phá mở cửa đem theo tăng cường, bố trí sử dụng ĐKZ75 và 12,7 ly bắn thẳng vào các lô cốt cửa sổ tầng hai tòa nhà chính Dinh Tỉnh Trưởng, chi viện kịp thời cho các lực lượng bộ binh vận động vượt qua cửa mở. Tiểu đoàn 2 chúng tôi đã họp quân chính cho đắp sa bàn mô phỏng gần giống căn cứ khuôn viên khu nhà Dinh Tỉnh Trưởng để anh em bàn bạc thảo luận dân chủ quân sự, luyện tập cho thật thành thạo, mọi công tác chuẩn bị dự kiến được tiến hành chuẩn bị chu đáo tỉ mỉ từng chiến sĩ.

Ngày 29/1/1968 (tức ngày 28 Tết âm lịch), cả trung đoàn 9 chúng tôi đã được tổ chức ăn Tết sớm trước 2 ngày. Nói là ăn Tết ở chiến trường trong điều kiện có chiến tranh, song chúng tôi cũng có đầy đủ bánh chưng, dưa hành, có thịt gà từ dưới đồng bằng gửi lên. Mỗi chiến sĩ chuẩn bị hai ngày lương khô bao gồm gạo rang, lương khô 72 pha trộn với đường phèn làm thức ăn dọc đường hành quân xuống thành phố.

16h ngày 28/1/1968 đội hình toàn tiểu đoàn 2 bắt đầu hành quân xuất phát, trong chúng tôi ai nấy đều hồi hộp chờ đợi. Trời về Tết se se lạnh, hai hàm răng lúc nào cũng đánh vào nhau kêu cập cập như rừng thông gặp gió kêu vo vo. Bầu trời càng về đêm càng tối đen (các cụ nói tối như đêm 30 Tết). Do công tác chuẩn bị chu đáo nên đội hình hành quân chúng tôi đi rất gọn, lúc nào cũng bám được nhau rất bí mật và thuận lợi. Khi vượt qua sông Hương, do trời quá lạnh nên anh em có một vài đồng chí bị nhiễm lạnh, ho nhiều, chúng tôi phải xoa dầu để chống rét. Tiểu đoàn 2 chúng tôi đau lòng và vô cùng thương tiếc, trong quá trình vượt sông Hương do trời rét, chuột rút có 2 đồng chí: Nguyễn Văn Đạt và Phùng Văn Mâu đã anh dũng hy sinh, từ từ chìm xuống đáy sông mà không la hét kêu cứu (xác chìm xuống lòng sông hai hôm sau mới nổi lên).

4h sáng ngày 1/2/1968, đồng chí Nguyễn Văn Hạnh trung đội 7 đánh thẳng vào nhà ga Huế bắt sống trung đội Bảo An Ngụy ngay trên cầu Bạch Hổ. Toàn đại đội 6 do tôi chỉ huy vận động tiến thẳng ra giáp bờ sông Hương rẽ phải vượt qua Trường Đồng Khánh, tiếp cận khu căn cứ Dinh Tỉnh Trưởng địch. Bọn địch ở đây nhốn nháo, một số vẫn trong quán rượu, một số chạy tọt vào cổng chính Dinh Tỉnh Trưởng. Lợi dung lúc lộn xộn, tôi nhanh chóng ra lệnh toàn đội hình đại đội vận động rượt đuổi theo cổng chính, hai khẩu 12,7 ly của đại đội 16 trung đoàn tăng cường của ta cho đại đội 6, chúng tôi nhanh chóng chiếm địa hình có lợi, dùng hỏa lực bắn chế áp chi viện. Đạn 12,7 ly của ta nổ hai lần càng làm cho quân địch trong Dinh Tỉnh Trưởng tưởng bị bao vây tứ phía rất hoang mang, dao động chạy tán loạn. Trong các phòng nhà chính, đèn điện vẫn còn sáng trưng, chúng vừa ăn uống, nhậu nhẹt, nhảy múa. Thấy quân Giải phóng bất ngờ đánh vào, chúng chạy tán loạn chui xuống hầm ngầm định thoát thân ra ngoài căn cứ. Chúng tôi nhanh chóng tra hỏi một vài tên tù binh vừa mới bắt được, chúng khai ở tầng một có một đường hầm thông ra bên ngoài giáp bờ sông Hương nên chúng chạy ra bên ngoài lẩn trốn trong các ngõ phố, đường hẻm.

Trời vẫn còn chưa sáng, trung đội của đồng chí Nguyễn Văn Tỉnh lùng sục nhưng chưa kỹ, nên bắt sống không được nhiều. Sau 2h đồng hồ tiến công lùng sục, đại đội 6 chúng tôi đã làm chủ toàn bộ tòa nhà Dinh Tỉnh Trưởng, cắm cờ Giải phóng nửa xanh nửa đỏ trên nóc tòa nhà lớn nhất của chúng, riêng bọn đầu sỏ và tên Tỉnh Trưởng sáng hôm đó chưa bắt được. Đến 15h chiều mới bắt được tên Tỉnh trưởng ở gần ngã 6 khu nhà thờ Phú Cam. Thừa thắng, tiểu đoàn 2 trung đoàn chúng tôi phát triển tiến công sang xưởng công cụ, khu sửa chữa vũ khí tập trung lớn nhất Thừa Thiên Huế. Bọn địch ở đây đang án binh bất động chưa ai hỏi thăm còn nguyên vẹnn khi đội hình đại đội 6 phát triển sang chúng bắt đầu phản ứng chống đỡ rất quyết liệt. Tôi điều động ĐKZ75 tăng cường và 12,7 ly tổ chức, B40 bắn vào khu căn cứ, xin cối 120 của trung đoàn bắn vào căn cứ. Sau nửa tiếng nổ súng tiến công pháo hỏa chuẩn bị toàn tiểu đoàn xung phong phát triển vào bên trong, bọn bảo vệ căn cứ tinh thần hoang mang chạy tán loạn. Thừa thắng đại đội 6 đánh thẳng vào khu trung tâm, bắt sống trên 50 tù binh và thu được rất nhiều vũ khí trang bị. Sau này số vũ khí trang bị đã kịp thời bổ sung cho anh em đại đội, tiểu đoàn và các lực lượng vũ trang phía Nam thành phố Huế tiếp tục chiến đấu phản kích.

 Hướng Nam sông Hương sau khi ta đánh mạnh, bọn địch co cụm rút dần về thôn Phước Quả. Nghe anh em báo cáo thôn Phước Quả trước đây khi lực lượng ta tổng tiến công nổi dậy cướp chính quyền cánh mạng Tháng Tám năm 1945, sau khi lực lượng ta rút khỏi Thành phố, chúng xây dựng ở đây trung tâm gồm các Đảng phái phản động tham gia bao gồm: Đảng Cần Lao, Đảng Nhân Vị, bọn Quốc Dân Đảng. Sau khi bị tấn công quyết liệt chúng dạt về tập kết cố thủ ở nhà thờ Phú Cam, co cụm chờ lực lượng chi viện để đối phó với ta. Lực lượng ở đây theo ta nắm được lên tới gần 400 tên, toàn là những tên cầm đầu bọn dầu sỏ về ăn Tết bị kẹt và những tên chỉ huy bọn tẩu thoát khỏi đơn vị về trốn tránh ở đây. Tôi báo cáo lên Tiểu đoàn và được lệnh yêu cầu nhanh chóng hình thành thế bao vây tiêu diệt và bắt sống gọn, không cho chúng tháo chạy về căn cứ ấp 6 và sân bay Phú Bài. Tôi đã điều động thêm hỏa lực, trung đội 7 được triển khai hình thành thế bao vây từ chân đồi núi Ngự Bình xuống, hiệp đồng với tiểu đoàn 4 Bộ đội địa phương tỉnh Thừa Thiên Huế tiến công tiêu diệt bắt sống gọi ra hàng, không cho chúng co cụm, tháo chạy thoát thân.

Các vòng vây của ta ngày càng xiết chặt lại,c ác loại vũ khí 12,7 ly, đại liên, không được bắn vào nhà thờ Phú Cam nhưng được bắn chỉ thiên uy hiếp tinh thần.

Bị ta uy hiếp bao vây, 20h ngày 2/2, bọn địch ở nhà thờ Phú Cam một số đội lốt con thiên giáo dân định tháo chạy khỏi nhà thờ về hướng Nam sân bay Phú Bài, các vòng vây của ta xiết chặt lại, ta đã dùng loa, đài và súng bắn chỉ thiên gọi ra hàng. Ở đây đại đội 7 và đại đội 6, các mũi, các hướng của ta bí mật tiếp cận mục tiêu. Các loại hỏa lực của ta bắn chỉ thiên nghi binh làm cho chúng hoang mang, chạy hết về thôn Phước Quả, chấp hành chính sách tôn giáo không để xảy ra chiến sự ở trong nhà thờ Phú Cam.

Khi địch không còn ở nhà thờ Phú Cam, quân ta đã nhanh chóng tổ chức tiến công chế áp hỏa lực dồn dập và xung quanh, kẻ địch trở tay không kịp. Do ta đánh nhanh đánh mạnh khiến bọn địch hoang mang, phần lớn nộp súng xin ra đầu hàng; chúng ta đã phân loại bắt sống 347 tên địch, phần lớn bọn đầu sỏ ngụy quân ngụy quyền, bọn ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân. Cả lực lượng tiểu đoàn 2 đã phối hợp với tiểu đoàn 4 bộ đội địa phương Thừa Thiên truy quét lùng sục làm chủ toàn bộ trận địa suốt 4 giờ đồng hồ, đặc biệt là các công trình kiên cố bên trong làng Phước Quả.

Đến 24h ngày 2/2/1968, cả vùng tam giác phía Nam thành phố Huế đã quét sạch địch, khu vực thôn Phước Quả được hoàn toàn giải phóng, tiêu diệt 137 tên, bắt sống gần 500 tên, thu rất nhiều vũ khí đạn dược, giải phóng khỏi ách kìm kẹp được 1,5 vạn dân.

Sau ba ngày đêm chiến đấu liên tục, đại đội 6 tiểu đoàn 2 chúng tôi 11h đêm ngày 3/2 mới có điều kiện tạm thời nghỉ ngơi, tiếng súng đã giảm trong khoảnh khắc. Ngày 4/2, tôi được cấp trên cất nhắc từ đại đội trưởng lên làm phó tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 trung đoàn 9.

Ngày 4 và ngày 5/2, đại đội 6, đại đội 7 chúng tôi bắt đầu triển khai phương án tổ chức xây dựng trận địa phòng ngự trên tuyến sông Vân Dương, sông Bến Ngự, cầu Kho Rèn, nhằm không cho địch phản công đánh từ ấp 5, sân bay Phú Bài theo trục đường số 1 đánh lên chiếm lại phía Nam thành phố. Quân khu Trị Thiên và Thành Đội Huế tăng cường cho tiểu đoàn 2 trung đoàn 9 chúng tôi 2 trung đội dân quân của xã Vân Dương, trong đó có 1 trung đội nữa. Tôi đã bàn với anh em trong chỉ huy đại đội 6 và đại đội 7 khi được tăng cường 2 trung đội dân quân nên bố trí xen kẽ trong đội hình của tiểu đoàn chủ lực để anh em kèm cặp hỗ trợ, chi viện lẫn cho nhau. Nhìn những cô dân quân nữ sinh viên Trường Đồng Khánh người trông rất mảnh mai nhưng tác phong lại rất nhanh nhẹn, tác phong chiến đấu khẩn trương, chúng tôi vừa phấn khởi, vừa ái ngại. Qua chiến đấu các cô rất dũng cảm, gan lì, nhiều gương chiến đấu dũng cảm hy sinh sau này được báo chí đã nêu “câu chuyện 11 cô gái Vân Dương”.

Trung tướng - anh hùng LLVTND, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh nay đã ngoài 80 tuổi, nhưng người vẫn gọn gàng, chắc nịch, mặc dù ông từng trải qua căn bệnh hiểm nghèo tưởng chừng không qua khỏi. Trời cũng “nể” ông, chiến tranh ác liệt, và đã từng chiến đấu tại chiến trường ác liệt nhất - Bình Trị Thiên, thì bạo bệnh làm sao đánh quỵ được ông! Bây giờ ông vẫn năng nổ trong các hoạt động của các cựu chiến binh; ông là Chủ tịch danh dự ccá doanh nghiệp thương binh. Trung tướng và vợ là bà Phạm Thị Được đi đâu cũng có nhau, như một cặp sam luôn bơi cùng nhau trên biển lớn, kể cả trong sóng giố hay lúc bình yên. Xin lắng nghe lời bà kể khi cùng chồng đi tìm sự sống:

Lang thang đất khách quê người

Đi tìm sự sống cho người tôi yêu

Trời cao đất rộng xế chiều

Chắp tay em vái những điều cầu may

.......

Người yêu khỏi bệnh như mơ

Lại về quê mẹ vui cùng cháu con.

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác