Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Chiến trường xưa

Từ anh trai làng thất học đến Tiến sỹ khoa học quân sự

Cập nhật lúc 15:08 17/06/2020

(ĐTTA) - Lộ Khắc Tâm là một người khá đặc biệt. Năm 1964 ông cắt tay lấy máu viết đơn xin được vào miền Nam đánh Mỹ. Trận đánh giặc thứ nhất trong đời ông cũng là trận tiêu diệt quân chủ lực lữ dù 3 “ Kỵ binh bay” của Mỹ lần đầu tiên vào Việt Nam.

Chiến tranh như một cơn lốc xoáy cuốn ông đi, nhào nặn, rèn dạy ông từ một anh trai làng bỏ học năm lớp 3 để lao động kiếm sống, trở thành một vị tướng, Tiến sỹ khoa học quân sự. Ông nguyên là phó cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng. Đến nay đã được nhà nước cho nghỉ hưu, ông vẫn tham gia đào tạo nghiên cứu sinh cho Học viện Quốc phòng và dành thời gian hoạt động từ thiện. 
 
 
Thiếu tướng Lộ Khắc Tâm (bên phải) trong lễ truy điệu các liệt sỹ hy sinh ở cao điểm 995 Sa Thầy (Kon Tum).
 
Cơ duyên cho tôi gặp tướng Lộ Khắc Tâm trong những ngày ông nằm điều trị tại bệnh viện Quân đội 108, được ông cởi mở kể cho nghe về cuộc đời từ lúc lớn lên, vào bộ đội đến nay, khi đã là một Tướng về hưu. Tôi vô cùng xúc động xin ghi lại câu chuyện này: 
 
“…Tôi sinh năm giáp ngọ 1942, tại làng Viên Nội, Ứng Hòa, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội), là con trai cả trong một gia đình nông dân nghèo đông con. Dưới  tôi còn 7 người em, trong đó 5 em trai, 2 em gái. Ngày xưa nhà  nhiều con trai (đa đinh) như vậy, được gọi là tốt phúc. Tốt đâu không biết, nhưng một lũ con trai choai choai trứng gà, trứng vịt, ăn như tằm ăn rỗi trong cảnh nhà nghèo thì quả là gánh nặng khủng khiếp cho bố mẹ tôi. Nhà thường xuyên đói ăn, nồi cơm đa phần là khoai lang khô, vậy mà mỗi đứa chúng tôi chỉ được một bát. Bố mẹ tôi nhiều lần nhịn ăn, âm thầm gạt nước mắt thương đàn con không đầy bữa.
 
Hoàn cảnh như vậy, nhưng bố tôi vẫn tích cực tham gia hoạt động du kích ở địa phương. Năm 1948 ông được kết nạp Đảng. Hiện nay, dưới nền ngôi nhà của chúng tôi ở quê, bố tôi vẫn giữ lại căn hầm bí mật ngày xưa ông bà nuôi giấu cán bộ  cách mạng. 
 
Học đến lớp 3 tôi phải bỏ để đi làm phụ giúp bố mẹ nuôi các em. Năm 1959 tôi theo người anh con nhà bác đi làm công nhân giao thông. Ngày ngày vác đá, nấu nhựa đường giữa trời nắng như đổ lửa, nhưng với sức trai 17, lại được ăn no, tôi lớn phổng phao, không biết mệt mỏi là gì. Chúng tôi đã làm trên các tuyến đường số 1, 21, 32 và đường số 6 suốt 3 năm với niềm vui góp nhặt những đồng tiền ít ỏi gửi về nhà. Tháng 2 năm 1962 UBND xã gọi tôi về khám tuyển nghĩa vụ quân sự và tôi đã  trở thành tân binh từ đó. 
 
Sau 3 tháng huấn luyện, tôi được biên chế vào Trung đội 1, Đại đội 1,Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 102, Sư đoàn 308. Một thời gian ngắn sau, tôi được đơn vị cho đi học nghiệp vụ thông tin. Với trình độ lớp 3 mà phải học về điện truyền tin quả là một thử thách lớn, nhưng tôi cứ liều. Tôi vừa lắng nghe, ghi chép đầy đủ bài giảng trên lớp vừa mày mò thực hành và học lỏm bạn bè. Vậy mà đến hội thao tôi được giải nhất. May mắn lại đến khi tôi được đơn vị cho đi học văn hóa cấp tốc, 6 tháng, tôi vượt qua lớp 4 lớp 5 rồi thi tuyển vào trường Sỹ quan Lục quân I. Tháng 9 năm 1962 nhận giấy báo trúng tuyển, tôi vừa phấn khởi, vinh dự vừa hồi hộp, lo lắng trước thử thách sắp tới. Khóa học là 3 năm (1962- 1965) tôi cố gắng học tập để luôn là học viên khá giỏi đều các môn, nhất là môn bắn súng thì được anh em khen là “có năng khiếu xạ thủ”.
 
Năm 1964 Trường sỹ quan Lục Quân I vinh dự được đón Bác Hồ về thăm. Tôi còn nhớ như in lời  căn dặn của Bác hôm ấy “Các cháu phải học tập cho tốt, sau này trở thành người chỉ huy trong quân đội …Nhiệm vụ giải phóng miền Nam đặt lên vai các cháu…” Lần gặp Bác ấy đã tác động rất lớn đến tư tưởng, nhận thức của chúng tôi, riêng tôi rất háo hức được hoàn thành khóa học thật tốt để sớm ra mặt trận đánh giặc. Năm 1964 cũng là năm phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng miền Nam Việt Nam, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Song, Nhà Trắng chưa cam chịu thất bại. Tổng thống Mỹ Gôn-xơn quyết định dùng không lực Hoa Kỳ đánh phá hủy diệt miền Bắc, hòng triệt đường tiếp tế của nhân dân ta cho chiến trường miền Nam, đồng thời quyết định chuyển cuộc “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam sang “Chiến tranh cục bộ”. Tháng 3 năm 1965 tên lính thủy đánh bộ Mỹ đầu tiên đặt chân lên Đà Nẵng. Ngày 20/7/1965 Bác Hồ ra lời kêu gọi đồng bào cả nước : “… Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”. Lúc này nhà trường thông báo cần huy động 100 đ/c học viên khóa 15 (khóa tôi đang học) đi B ( vào miền Nam) chiến đấu, với một điều kiện “Đ/c nào đi thì viết đơn tình nguyện”.Tôi  xung phong và viết đơn ngay, còn trích máu ở ngón tay để điểm chỉ vào chữ ký bày tỏ lòng quyết tâm cao và mong muốn được ra mặt trận đánh giặc. Quyết tâm của tôi đã được cấp trên chấp nhận.
 
Do phải bí mật nên chúng tôi không được về phép, cũng không được viết thư báo tin cho gia đình, mà lặng lẽ tập trung huấn luyện ngay tại trường. Đến trước ngày chuyển quân vào Sư 304 ở Bỉm Sơn – Thanh Hóa, tôi mới được đơn vị cho về qua nhà. Những ngày nghỉ hiếm hoi trước khi dấn thân vào cuộc chiến máu lửa bảo vệ tổ quốc, thâm tâm tôi đã sẵn sàng và háo hức ra mặt trận. Nhưng đứng trước những người thân, thấy sự bối rối lo lắng trên mặt mẹ, vẻ trầm tư của  cha và nhất là những giọt nước mắt lăn dài trên má người bạn gái yêu quý – vợ chưa cưới của tôi (trước khi nhập ngũ gia đình tôi đã tổ chức ăn hỏi) lòng tôi không khỏi băn khoăn.Tôi thương cha mẹ đã đành, càng thương người yêu vì biết chiến tranh là tàn khốc, là kéo dài sự mất mát, chia ly không biết bao giờ mới kết thúc. Nếu rất lâu tôi mới trở về, hoặc không bao giờ về nữa… thì cô ấy sẽ ra sao ?
 
Hình như đọc được ý nghĩ của tôi, cô ấy chủ động đeo vào tay tôi chiếc nhẫn vàng và xin tôi một tấm áo quân phục ngắn tay. Cái cách trao lời hẹn ước của cô ấy làm tôi xúc động vô cùng. Từ đó, mỗi chặng đường hành quân, mỗi trận đánh, mỗi đau đớn trước đồng đội hy sinh và vui mừng chiến thắng tôi đều nhớ về người con gái ấy. Chiếc nhẫn trên tay tôi như sự hiện diện của cô ấy, ấm áp chia sẻ với tôi từng ngày.
 
Ngày 20 - 8 - 1965 tại chiến khu Ngọc Chạo - Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Chính ủy Lã Ngọc Châu và Trung đoàn phó Lê Tiến Hòa, toàn Trung đoàn 66 đội ngũ chỉnh tề làm lễ tuyên thệ, phát lệnh xuất quân.Tôi được cử làm Trung đội trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 Sư đoàn 304. Tiểu đoàn 7 do Tiểu đoàn trưởng Phạm Công Cửu chỉ huy.
Trên vai mỗi chiến sỹ mang từ 35 đến 45 kg vũ khí trang bị. Đường mòn xuyên rừng sâu, núi cao, nhiều đoạn dốc dựng đứng, vách đá tai mèo hiểm trở, chiến sỹ ta tay chống gậy, gò mình nhích từng bước. Là Trung đội trưởng, lần đầu tiên dẫn quân ra trận, tôi không khỏi lo lắng. Liệu có chiến sỹ nào thiếu quyết tâm, ngại gian khổ? Nên lúc tôi đi trên đầu hàng, lúc lại xuống dưới cùng, để động viên anh em cố gắng. Có buổi về đến binh trạm, kiểm quân số thấy thiếu, tôi lật đật quay trở lại con đường đã đi qua để tìm bằng được anh em đưa về trạm. Hơn hai tháng hành quân theo đường Hồ Chí Minh, chúng tôi đã phải chịu mọi thử thách, tai nạn. Một mặt bị máy bay Mỹ liên tục ném bom bắn phá, nhiều anh em thương vong, rồi ốm đau do thiếu cơm, khát nước, bệnh tật…Chúng tôi phải vào sâu trong rừng kiếm rau, trái cây. Cứ thấy chim ăn quả nào thì chúng tôi hái ăn theo quả đó. Vậy mà không ít lần anh em chiến sỹ bị tai nạn như ngộ độc nấm, rắn cắn, hổ báo ăn thịt… rất thương tâm. Gian khó là vậy, nhưng anh em đơn vị không nhụt trí. Mọi người tự nguyện giúp đỡ nhau, chia sẻ từng viên thuốc ký ninh, từng hớp nước, từng muỗng cháo nấu bằng củ khoai môn dại trong rừng. Mỗi đêm trăng, chúng tôi gối súng nằm trên bãi cỏ nghe một chàng lính trẻ ngâm nga bài thơ Đầu súng trăng treo của nhà thơ Chính Hữu:
 
“… Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ 
Đồng chí!...”
 
Ngày 10 tháng 11 năm 1965, những đơn vị đầu tiên của tiểu đoàn 66 đã có mặt ở thung lũng Ia Đrăng -Tây Nguyên, đúng lúc quân Mỹ nhảy vào cuộc chiến trong chiến dịch Plây Me. Chúng tôi vừa về đến vị trí tập kết thì ngày hôm sau đã chạm trán với bọn Mỹ. Sau này mới được trên thông báo đó là Tiểu đoàn Dù số 1, Lữ dù 3 kỵ binh bay của Mỹ do trung tá Gmoore thuộc Sư đoàn Không vận số 1chỉ huy. Bộ Trưởng  Bộ Quốc phòng Mỹ-Tướng Mác- na- ma- ra và Tướng Oét- mo-len cấp tốc điều sư đoàn “Kỵ binh không vận”số 1 vừa từ Mỹ sang lên huyện lỵ An Khê nhằm chiếm giữ toàn bộ Tây Nguyên. Sư đoàn này được coi là “Niềm hy vọng” là “Át chủ bài” của Mỹ, được biên chế 16.000 quân, có 4 tiểu đoàn pháo binh hạng nặng, 1600 xe quân sự, hơn 400 máy bay lên thẳng, trong đó có chiếc Si-núc (cần cẩu bay) tốt nhất của Mỹ. Báo chí Mỹ đã  không ngớt lời ca tụng: “Đơn vị thiện nghệ hơn bất cứ sư đoàn bộ binh nào khác, có sức cơ động nhanh, có thể đổ quân xuống bất cứ nơi nào họ muốn”(Theo hãng tin UPI ngày 14-9-1965).
 
 Trước khi bước vào trận đánh, dù đã xác định tư tưởng vững vàng cùng nhiệt huyết nung nấu nhưng đây là trận đánh đầu tiên trong đời quân ngũ, lại là chỉ huy trung đội chưa có kinh nghiệm thực tế, chiến trường thì mới lạ! Tôi chưa hình dung ra được sức mạnh phi pháo cùng sự yểm trợ tối đa trong tác chiến của Mỹ nên không tránh khỏi hồi hộp. Không chỉ riêng tôi mà trong tâm tư các chiến sỹ và đồng bào Tây Nguyên lúc đó cũng vô cùng băn khoăn lo lắng trước sự chênh lệch quá lớn về lực lượng ta- địch như vậy. Hóa giải nỗi băn khoăn đó đ/c Chu Huy Mân – Tư lệnh kiêm Chính ủy mặt trận Tây Nguyên xác định: “Trước hết phải dám đánh Mỹ và quyết tâm đánh thắng, cứ đánh khắc tìm ra cách đánh và đ/c hạ quyết tâm : “Dù phải một đổi một cũng cương quyết đánh thắng trận đầu”.
 
Sáng 14 tháng 11 năm 1965, hàng trăm máy bay trực thăng chở quân đổ bộ xuống chân núi Chư Prông (Gia Lai) đã giao chiến với D9 E 66. Lúc này D7 của chúng tôi ở cách núi Chư-Prông chừng 2- 3km về phía Tây nam. Đêm 14/11/1965 đơn vị tôi được lệnh xuất kích, vừa tiếp cận vừa nắm địch. Pháo địch bắn như vãi đạn vào đội hình. Tôi phải động viên chiến sỹ cố gắng tiếp cận. 5 giờ sáng ngày 15/11/1965, Đại đội 2, Tiểu đoàn 7 chúng tôi đụng độ với bọn Mỹ. Cuộc “Tao ngộ” diễn ra khi cả hai bên đều bất ngờ. Lúc chúng tôi đang ngụp lặn trong rừng khoọc và cỏ dại cao ngập đầu người, phải phạt cây, rẽ lá tiến từng bước, bỗng phát hiện những cái mũ sắt nhấp nhô gần ngay trước mặt. Tôi nhanh chóng ra lệnh cho trung đội đồng loạt nổ súng tiến công. Cả khu rừng đang im ắng, bảng lảng sương mai, bỗng ầm vang vô vàn tiếng nổ. Tiếng chát chúa của AK, tiếng giòn tan của trung liên, tiếng ùng oàng chắc nịch của B40 quân ta cùng tiếng tiểu liên cực nhanh AR15, Tiếng cạch… oành giật cục của súng phóng lựu đạn M19 của  địch như  đồng loạt vang lên… bọn Mỹ đáp trả hàng loạt lựu đạn US. Tiếng lựu đạn nổ vang như pháo, khói bụi mù mịt quyện với mùi thuốc súng khét lẹt đậm đặc khiến một vùng núi rừng Chư - Prông như bốc hỏa. Bộ đội xung phong đánh giáp lá cà, cận chiến xen kẽ với địch. Chúng tôi nhìn rõ bọn lính Mỹ lố nhố rất đông, cả da đen lẫn da trắng. Lúc cự ly quá gần chỉ dùng được AK, lưỡi lê, lựu đạn đánh nhau. Đến đây thì lợi thế của bộ đội ta mới bộc lộ: Ta người nhỏ, xử lý tình huống nhanh, dứt khoát, lại có sẵn động lực là lòng căm thù sâu sắc đế quốc Mỹ xâm lược. Ngược lại, bọn lính Mỹ to xác, phản ứng chậm chạp, tác chiến máy móc, ỷ lại vào sự yểm trợ của phi pháo, nên chúng rất sợ đánh gần. Khi đánh giáp lá cà, chúng nổ súng bắn bừa bãi không cần xác định mục tiêu. Có tên hoảng loạn vừa chạy giật lùi vừa ghếch súng bắn lên trời như điên. Bọn chỉ huy vừa la hét “Vixi…Vixi …” vừa chửi rủa xua quân lính tiến lên. Tiếng lính Mỹ bị thương gào khóc náo loạn khắp trận địa.
 
Trời sáng hẳn, bọn Mỹ phát hiện quân chủ lực của ta. Chúng rút ra xa rồi ném lựu đạn màu, phân ranh giới nguy cấp nhằm gọi máy bay và pháo yểm trợ. Lập tức, từng tốp máy bay phản lực, trực thăng vũ trang lao tới ném bom cháy, phóng rốc két hủy diệt vào trận địa, gây thương vong nặng nề cho cả  ta và địch (do đang đánh cài răng lược). Chúng tôi lợi dụng các ụ mối, gốc cây để ém quân và nổ súng, ném lựu đạn tiến công bọn Mỹ. Đồng chí xạ thủ trung liên đi bên tôi trúng đạn.Trước khi chết anh còn kịp thều thào nói với tôi: “Anh lấy súng của em tiến lên… trả thù cho em”. Tôi chỉ kịp vuốt mắt cho người bạn thân thiết ấy rồi lấy khẩu súng RPD từ tay anh, lao lên nổ súng chi viện cho đồng đội. Cái ánh nhìn và lời trăng trối cuối cùng của người xạ thủ ấy cứ ám ảnh tôi mãi như một lời nhắc nhở, lại như một lời giao nhiệm vụ khiến tôi luôn luôn tâm nguyện: Không sợ hy sinh, quyết tâm chiến đấu, chỉ huy Trung đội hoàn thành nhiệm vụ, trả thù cho những người ngã xuống.
 
Trận đánh càng lúc càng ác liệt, quân số thương vong càng nhiều. Khắp cánh rừng cỏ cháy nham nhở. Số anh em  hy sinh nằm lẫn xác chết của quân Mỹ  la liệt khắp nơi. Có chiến sỹ hy sinh đè lên thằng Mỹ trong tư thế đang vật lộn. Có đ/c mắt còn mở trừng trừng như trút căm thù lên đầu lưỡi lê…
 
Quân Mỹ bị ta tấn công phủ đầu đã rối loạn, ít phút sau chúng củng cố đội hình co cụm lại để chống cự, đợi phi pháo đến yểm trợ và phản kích lại ta. Chúng tôi cũng xốc lại đội hình, thừa thắng chủ động tấn công địch. Trận đánh kéo dài đến 17h45 mới kết thúc. Trời tối dần, máy bay OV10 của địch vẫn quần đảo trinh sát. Lợi dụng ánh sáng đèn dù từ máy bay C130 và ánh sáng từ đạn pháo của địch. Chúng tôi mò mẫm tìm đồng đội bị thương hoặc đã hy sinh, cùng vận tải của tiểu đoàn đưa thương binh về phía sau.
 
Lúc công việc tạm ổn, tôi thấy cánh tay phải nhoi nhói đau và máu thấm ra áo. Nhờ đại đội trưởng Lê Tam kiểm tra mới biết tôi dính đạn từ lúc nào không hay! May vết thương vào phần mềm nên chỉ cần băng bó, giữ gìn mấy ngày là khỏi. Trong trận này, trung đội tôi đã góp công cùng Đại đội 2 – Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 tiêu diệt 1đại đội lính dù, bắn rơi 4 máy bay trực thăng Mỹ. Sau trận Ia Drăng tôi được tặng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ cấp 3.Tôi được điều động về làm đại đội trưởng Đại  đội I Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66 để chuẩn bị cho các trận đánh tiếp theo. Lúc đó tôi mới 23 tuổi đời  và 3 tuổi quân.
 
Năm 1966 địch tăng cường lực lượng lên Tây Nguyên. Chúng liên tiếp mở những cuộc phản công tìm diệt chủ lực của ta hòng cắt đứt hành lang chiến lược Bắc – Nam và khôi phục lại thế trận đã bị phá vỡ trong mùa khô thứ nhất. Các trung đoàn chủ lực của ta đã cùng các lực lượng địa phương kịp thời chặn đánh, bẻ gãy các cuộc hành quân của địch khiến chúng tổn thất nặng nề.
 
Ngày 3 tháng 7 năm 1966, một đại đội Mỹ từ đồn Đức Vinh nống ra,chúng dừng ăn trưa ở khu rừng “Im lặng ”. Chỉ huy Tiểu đoàn 7 lệnh cho các đại đội bí mật tiếp cận địch rồi bất ngờ nổ súng tiêu diệt  những tên mang điện đài khiến quân Mỹ mất liên lạc không gọi được pháo binh và máy bay đến chi viện. Chúng đối phó lúng túng và  cuối cùng bị tiêu diệt hoàn toàn. Trận này Tiểu đoàn 7 đã diệt gọn 2 đại đội Mỹ, bắn cháy 3 xe M113, đánh bại cuộc phản kích của địch. Thực tiễn trận đánh của Tiểu đoàn 7 đã hình thành chiến thuật “Vận động tiến công kết hợp chốt” ở chiến trường Tây Nguyên.
 
Cuối mùa mưa năm 1966, ta mở chiến dịch Sa Thầy. Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên chỉ đạo Sư đoàn 1điều 1 tiểu đoàn súng cối 120, 2 tiểu đoàn súng cao xạ bắn vây đồn Plei Girăng. Tiểu đoàn 7 bám theo địch nống ra với tinh thần có cơ hội là đánh. 3h chiều, chúng tôi nổ súng tấn công địch. Tiểu đoàn trưởng Võ Quang Tịnh chỉ định tôi đánh từ phía nam lên, nhưng tôi xin được đánh chúng ngay từ chỗ chúng tôi đang chiếm lĩnh. Chưa có lệnh nổ súng, chúng tôi bị tổ tiền tiêu của địch phát hiện. Chúng bấm mìn định hướng làm mấy đồng chí hy sinh.Tôi liền ra lệnh cho đại đội xung phong đánh chiếm trận địa của địch, sau 30 phút chiếm được công sự, bắt sống được một tên Mỹ, nhiều tên khác bị tiêu diệt trong đó một tên da trắng có máy ảnh, chắc là nhà báo! Hai đại đội kia không lên được.Địch tập trung phản kích vào đại đội tôi. Chúng tôi bị hy sinh khoảng trên một nửa quân số. Tôi còn nhớ sau trận ấy về, tôi thương anh em đến mức mấy ngày trời không ăn uống được. Anh Tịnh nhắc tôi không để tình cảm chi phối mà phải tập trung chỉ huy đơn vị. Do hy sinh quá nhiều, cấp trên lệnh cho chúng tôi rút ra. Tôi xin thêm một khẩu cối và một trung đội bộ binh để tiếp tục đánh nhằm tạo thời gian cho đồng đội phía sau giải quyết thương binh, tử sỹ và tù binh. Khoảng 40 phút sau chúng tôi chiếm thêm một số công sự địch, rồi mới rút. Đó là đêm 24- 12- 1966 ( đêm Noel ) Lợi dụng giờ ngừng súng đêm Noel, chúng tôi tổ chức mai táng cho các liệt sỹ rồi lội bộ, vượt sông Sa Thầy, mang theo hết các đ/c thương binh về nơi tập kết an toàn.Trận này D7đã tiêu diệt một đại đội Mỹ và đánh thiệt hại nặng một đại đội khác. Sau trận này, tôi được công nhận Dũng sỹ diệt Mỹ cấp I, được cử đi báo cáo kinh nghiệm ở nhiều đơn vị và được bổ nhiệm Tiểu đoàn bậc trưởng phụ trách Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 66.
 
Năm 1966, chúng tôi tham gia chiến dịch Đắc Tô. Tiểu đoàn tôi lại đối đầu với Trung đoàn Không vận số 1 Mỹ do Trung tá Gmoore chỉ huy. Sau này khi hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, Moore trở lại Việt Nam, tôi có gặp. Ông ta đã là Trung tướng.
 
Với chiến thắng Đắc Tô, Trung đoàn 66 của chúng tôi đã góp phần cùng Tây Nguyên, cùng miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ 2 của Mỹ. Từ đây căn cứ hậu phương trực tiếp của Tây Nguyên được mở rộng sang đông sông Pô Cô. 
 
Chiến dịch này ta đối đầu với Lữ đoàn dù 173 của Mỹ. Chúng đổ hàng ngàn quân xuống các điểm cao trên dãy Ngọc Kom Liệt. Tại một trong những điểm cao đó, Tiểu đoàn 4 lữ dù 173 vừa đặt chân xuống đã bị chiến sỹ trinh sát trung đoàn và Đại đội 3 Tiểu đoàn 7đánh diệt 130 tên. Những ngày tiếp sau, các điểm cao của địch đều bị ta đánh tơi tả.Trung đoàn trưởng Quốc Biên lệnh cho tôi chỉ huy Tiểu đoàn 8, phối hợp với đ/c Thật tiểu đoàn trưởng  Tiểu đoàn 7 xuất kích đánh chặn Tiểu đoàn 4 Mỹ. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt, kéo dài suốt 8 tiếng đồng hồ. Trung đoàn 66 diệt gần hết Tiểu đoàn 4 Lữ đoàn 173 Mỹ. Chiều tối hôm đó, từng tốp máy bay Mỹ thay nhau đến ném bom phá, bom xăng hủy xác đồng bọn. Cả một vùng chiến trường bị cày xới tan nát.
 
Chiến thắng Đắc Tô là bản khai tử chiến lược“tìm diệt”của Mỹ ở Tây Nguyên. Quân Mỹ đã phải lùi dần về phòng ngự chiến lược.
 
Năm 1968 tôi giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66 trong đội hình Sư đoàn 1, khẩn trương bước vào chuẩn bị  cho các cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân. 
 
Năm 1969 Chúng tôi tham gia mở đợt tiến công vào tuyến phòng thủ Bu Prăng – Đức Lập. Lúc này tôi được điều về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7 tiến công bao vây căn cứ Ka Te. Một mặt ta nã pháo bắn sập những lô cốt, những ụ súng vòng ngoài. Các chiến sỹ bộ binh phát triển chiến hào lấn sâu vào hàng rào dây thép gai khép chặt vây hãm địch. Trận này Trung đoàn trưởng Hồ Đệ  trực tiếp chỉ huy, ra lệnh cho Tiểu đoàn 8 tiến công, làm chủ căn cứ địch, diệt 200 tên trong đó 70 tên Mỹ, bắt 8 tù binh, bắn rơi 14 máy bay, thu nguyên vẹn hai khẩu pháo 155 ly, 6 khẩu 105 ly với hàng ngàn quả đạn pháo và toàn bộ kho hàng.
 
Ngày 5 tháng 12 năm 1969, đợt hoạt động nam Tây Nguyên kết thúc.
 
Sau chiến dịch nàyĐơn vị tôi hành quân ra phía bắc Tây Nguyên để huấn luyện, đồng thời cùng Trung đoàn làm nương rẫy, tự túc lương thực. Đến ngày mồng 1 tháng 4 năm 1970 tôi lại trở về chỉ huy Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 tham gia chiến dịch Đắc Xiêng phía bắc Đắc Tô cùng với Trung đoàn 28 đánh đồn Đắc Xiêng. Chiến dịch này kéo dài 23 ngày đêm, chúng tôi đã phát huy triệt để chiến thuật “vận động bao vây, tiến công liên tục” nên đã chiến thắng giòn giã. Với chiến thắng Đắc Xiêng, mặt trận Tây Nguyên một lần nữa được đón nhận Huân chương Quân công hạng nhất. Riêng tôi do bị thương nặng phải chuyển về bệnh viện hậu cứ ở Tây nguyên điều trị suốt mấy tháng trời.
 
 Những ngày nằm viện nhàn rỗi, tôi thường hay nghĩ về những người thân đang ở quê nhà, nhất là người vợ chưa cưới của mình. Chiến tranh thì ngày càng ác liệt. không biết bao giờ kết thúc, càng không dám chắc mình có còn sống trở về không, hay sống mà tàn phế thì khổ cho người ta! Day dứt mãi tôi liền viết một bức thư về nhà, một bức cho người yêu, khuyên cô ấy đừng đợi tôi nữa.Tôi còn dặn cô ấy: Nếu có người yêu thương thì hãy nhận lời, hãy mang bức thư  của tôi báo cáo với chi bộ và chính quyền địa phương để họ thông cảm mà chấp nhận. Không biết bức thư có đến tay cô ấy không? Sau này tôi mới biết sau khi tôi đi B, cô ấy cũng vào Thanh niên xung phong, phục vụ ở chiến trường miền Trung. Những năm 69, 70 cô ấy ở Quảng Bình, nhiều lần mò mẫm đi tìm tôi mà vẫn “bặt vô âm tín”. Chờ đợi mãi trong vô vọng, cuối  năm 1972 cô ấy mới lấy chồng.Trớ trêu thay!chưa đầy nửa năm sau ngày cưới của cô ấy thì tôi được đơn vị cử ra Bắc tập huấn chuẩn bị chiến dịch tổng tấn công giải phóng miền Nam. Dù đã xác định từ trước, đã viết thư khuyên cô ấy đừng chờ đợi mình mà lỡ dở tuổi xuân, nhưng nghe tin cô ấy đã lấy chồng tôi vẫn choáng váng, hụt hẫng nhiều ngày, không sao cân bằng đươc. Trung đoàn trưởng Hồ Đệ - thủ trưởng của tôi lo lắm, liền “mai mối” cho tôi cô em gái của bạn ông ấy làm y tá Đài tiếng nói Việt Nam, nhà ở trong  khu phố cổ Hà Nội. Không biết có phải do “duyên trời định” mà chúng tôi hợp ý nhau ngay từ buổi đầu và chỉ nửa tháng sau đã nên duyên chồng vợ. Đám cưới chúng tôi được Tư lệnh kiêm Chính ủy mặt trân Tây Nguyên Chu Huy Mân đại diện họ nhà trai. Ông Trần Lâm, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói VN đại diện họ nhà gái, tổ chức tại nhà ăn tập thể của Đài - số 5 Trần Phú, Hà Nội. Sau đấy chúng tôi được bố trí ở trong 1 căn phòng cấp 4 rộng 11m thuộc khu tập thể Đài TNVN 128 Đại La. Cho đến nay tôi vẫn thầm cám ơn cuộc đời đã cho tôi được gặp cô ấy, để suốt những năm tháng gian khổ cực nhọc sau này, cô ấy một mình thay tôi gánh vác nào công việc gia đình, dòng tộc, nào nuôi dạy hai đứa con trai khôn lớn có sự nghiệp trưởng thành và lúc nào cũng là chỗ dựa tinh thần cho tôi phấn đấu học tập cho đến tận khi về nghỉ hưu.
 
Cưới vợ được 6 tháng tôi lại trở vào miền Nam.Tôi dặn vợ nếu sinh con trai thì đặt tên là Trường Sơn để nhớ bố nó đang vượt Trường Sơn đánh Mỹ không về với mẹ con được. 
 
Tháng 3 năm 1975, tôi được bổ nhiệm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 25 trực thuộc mặt trận Tây Nguyên. Đây là thời gian để lại nhiều kỷ niệm khó quên nhất trong đời tôi. Lúc đó đơn vị tôi vẫn chốt giữ mặt trận Tây Nguyên. Khi ấy Lữ dù 2 tổng dự bị của quân Ngụy từ Huế vào nhằm tái chiếm lại Buôn Mê Thuột, ngăn quân Giải phóng đánh xuống miền duyên hải. Lúc này thủ trưởng Hồ Đệ đã là Sư trưởng, Ông Đặng Vũ Hiệp là Chính ủy, lệnh cho chúng tôi phá vỡ chốt của địch ở chân đèo Ma T.rắc. Sư đoàn 10 đột phá phía nam đường 21 (nay là đường 26) cắt đèo Phượng Hoàng và đèo Ma T.rắc. Trung đoàn 25 của tôi đánh vu hồi từ phía bắc xuống phối hợp với Sư đoàn 10. Sau 2 giờ chiến đấu chúng tôi tiêu diệt một tiểu đoàn thiếu của Ngụy, bắt 2 ban chỉ huy tiểu đoàn 1- 2 của Lữ dù Ngụy, thu 270 súng các loại, chiếm cao điểm và cùng với Sư đoàn 10 phá vỡ hoàn toàn lữ dù trên đèo Phượng Hoàng, làm thất bại kế hoạch tái chiếm Buôn Mê Thuột. Sau trận này đơn vị tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. 
 
Đêm 29 rạng sáng 30 tháng 4 năm 1975 Chúng tôi cùng với Trung đoàn 24 Sư đoàn 10 Quân đoàn 3 đánh thọc sâu vào Sài Gòn. Tiến đánh thẳng vào Bộ Tư lệnh không quân Ngụy ở sân bay Tân Sơn Nhất. Đến Lăng Cha Cả còn bị tàn quân Ngụy chống cự dữ dội. Nhưng bộ đội Giải phóng như một cơn lốc lớn, cuồn cuộn tiến vào thành phố. Vừa chiếm được sân bay Tân Sơn Nhất và đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu của quân Ngụy Sài Gòn, chúng tôi nghe loa truyền thanh phát lời tuyến bố đầu hàng của tướng Dương Văn Minh.
 
Giờ phút thiêng liêng của lịch sử đã điểm! Cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc đã thắng lợi. Không gian như nén lại, mọi con tim như ngừng đập, mọi khuôn mặt ngơ ngác giây lát rồi vỡ òa. Chúng tôi ôm nhau quay tròn, miệng  hét vang “hòa bình rồi! hết chiến tranh rồi!” mà mắt ai cũng nhòe nước. 
 
Giải phóng miền Nam, tôi chuyển lên làm phó phòng Quân huấn Quân đoàn 3 huấn luyện chiến sỹ duyệt binh chuẩn bị đại lễ chào mừng giải phóng miền Nam và tiếp tục ở lại Sài gòn làm công tác hậu chiến. Năm 1976 tôi chuyển ra Nha Trang huấn luyện. Cũng năm đó vợ tôi có đợt công tác khám sức khoẻ cho phóng viên Đài TNVN ở Nha Trang. Chúng tôi gặp nhau được một tuần thì vợ tôi theo đoàn vào TP HCM, con trai tôi lúc đó đã hơn hai tuổi mà tôi vẫn chưa được nhìn thấy cháu!
 
Cuối năm 1976 tôi được ra Bắc thăm vợ con ít ngày rồi lại  nhận lệnh sang chiến trường Kăm Pu Chia, đánh trận ở nước bạn đến năm 1979 tôi hoàn thành nhiệm vụ trở về nước. 
Sau 10 năm lăn lộn ở các chiến trường, tôi không nhớ đã đánh giặc bao nhiêu trận, chỉ biết rằng chúng tôi cứ liên tục, liên tục từ trận này sang trận khác, từ chiến dịch này sang chiến dịch khác. Trên đây chỉ là những trận tiêu biểu để lại nhiều dấu ấn trong cuộc đời chiến trận của tôi. Tôi đã bị thương 7 lần, nhưng cũng được Nhà nước và Quân đội ghi nhận thành tích, động viên khen thưởng ngay sau mỗi trận đánh như sau: 
 
- Huân chương Độc lập hạng 3
- Huân chương Chiến công hạng Nhất , Nhì, Ba (2 lần)
- Huân Chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.
- Hai lần  danh hiệu: Dũng sỹ diệt Mỹ.
- Và nhiều giấy khen, bằng khen khác …
 
Năm 1980 tôi được cấp trên cho đi học tại Học viện Quân sự cấp cao (Nay là Học viện Quốc phòng). Cùng khóa học với tôi có những người sau này nổi tiếng, giữ những vị trí quan trọng  như: Đại tướng Vũ Văn Dũng (tức Bảy Dũng) - Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Đại tướng Phạm Văn Trà - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Nguyễn Phúc Thanh - Phó chủ tịch Quốc hội; Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng vv…
 
Tiếng là học tại Hà Nội nhưng chúng tôi phải ở nội trú, chủ nhật mới được về nhà. Năm đó vợ tôi sinh con trai thứ 2. Chúng tôi đặt tên cháu là Sơn Hà. Năm 1981 tốt nghiệp, tôi được giữ lại làm giáo viên giảng dạy, chủ nhiệm khoa Chiến thuật- Chiến dịch Học viện Chính trị Quân sự. Nhưng năm 1985 tôi lại nhận nhiệm vụ Sư trưởng sư 337 Quân đoàn 14 và phó Tham mưu trưởng Quân đoàn 14, Quân khu 1 tăng cường cho mặt trận biên giới phía Bắc. Xong nhiệm vụ lại trở về Học viện Quốc phòng làm chủ nhiệm khoa Chiến lược  và giảng dạy. 
 
Năm 1995 tôi học cao học, lấy bằng Thạc sỹ, sau đó học tiếp nghiên cứu sinh, đạt học vị Tiến sỹ Khoa học quân sự năm 1999. 
 
Năm 2002 tôi được phong hàm Thiếu tướng và nhận chức Phó cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu - Bộ Quốc phòng. 
 
Năm 2008 tôi được nhà nước cho nghỉ hưu, nhưng vẫn tiếp tục tham gia đào tạo nghiên cứu sinh cho học viện đến ngày nay.
 
Ngẫm lại cuộc đời của tôi, thật là một chặng đường dài tranh đấu và học tập không ngừng nghỉ. Tôi học sau mỗi trận đánh, học anh em đồng đội, vừa đánh giặc vừa học tập. Được như ngày hôm nay, tôi mang ơn cuộc đời rất nhiều. Quân đội là trường học lớn nhất của tôi, qua đó tôi được rèn luyện, học tập để  từ một cậu bé thất học trở  thành một người đàn ông trưởng thành, có tri thức khoa học. Tôi mang ơn người vợ hiền của mình – bà Nguyễn Thị Phượng, người con gái Hà Nội gốc đã hy sinh tuổi trẻ, sự nghiệp để dành trọn tình yêu cho gia đình. Bà không chỉ gánh trên đôi vai của mình “cơ nghiệp nhà chồng” mà còn là người tạo dựng sự nghiệp cho ba bố con tôi. Con trai lớn Lộ Trường Sơn của chúng tôi nay đã là một đảng viên Đảng CSVN, một tiến sỹ, sỹ quan Quân đội. Cháu thường tự hào “khoe” với mọi người rằng: cuộc đời tôi hai lần được tuyên thệ dưới cờ Đảng. Lần thứ nhất là lúc còn trong bụng mẹ, khi mẹ tôi được kết nạp Đảng và lần thứ 2 là khi tôi đã là sỹ quan quân đội, tiếp bước sự nghiệp của cha”.
    
                                           Nguyễn Thị Sánh 
                                           (Ghi theo lời kể của Thiếu tướng Lộ Khắc Tâm)
 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác