Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Gương sáng tri ân

Kỉ niệm 33 năm ngày mất Đại tướng Lê Trọng Tấn

Cập nhật lúc 21:59 03/12/2019

Đại tướng Lê Trọng Tấn (03/10/1914 – 05/12/1986) sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước ở xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là TP.Hà Nội), Lê Trọng Tấn (tên khai sinh là Lê Trọng Tố) từng là lính không quân của Pháp nhưng sớm giác ngộ cách mạng, tham gia Mặt trận Việt Minh năm 1944.

Ngày 25/1/1948, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ tịch Khu 10. Năm 1949, theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, Trung đoàn 209 chủ lực đầu tiên của Liên khu 10 chuyển thành trung đoàn mạnh, trực thuộc Bộ, mang danh hiệu Trung đoàn Sông Lô. Khi đó ông là Phó tư lệnh Liên khu 10 được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên của trung đoàn.
 
 
Đại tướng Lê Trọng Tấn
 
Ngày 27/12/1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên, khi mới 36 tuổi. Với những bài học từ thực tiễn chiến trường và trưởng thành trong chiến đấu, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là đơn vị đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam ngày 13/3/1954. Sau thắng lợi này, Đại đoàn 312 tiếp tục được lệnh bám sát địch để đón thời cơ tổng công kích. Chiều 7.5.1954, một đơn vị của Đại đoàn 312 đã tấn công vào sở chỉ huy của Pháp, bắt sống Tướng De Castries cùng Bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau này, De Castries cho biết: ông ta có vinh dự được làm bại tướng dưới tay Lê Trọng Tấn và đại đoàn của ông.
 
Năm 1964, khi tình hình chiến tranh bắt đầu có những biến đổi lớn cả về mặt chính trị, quân sự, cả ở đô thị, nông thôn và vùng rừng núi, Mỹ buộc phải chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ”. Tướng Lê Trọng Tấn và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đặc phái vào miền Nam “giải bài toán” đánh Mỹ. Tướng Lê Trọng Tấn đảm nhiệm cương vị Phó Tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam, đồng thời ông trực tiếp làm tư lệnh của nhiều chiến dịch. Theo Đại tá Nguyễn Nhật Minh - thư ký riêng của Đại tướng Lê Trọng Tấn, sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, trong quân đội ta nhiều người đã có tư tưởng đánh Mỹ - Ngụy bằng chiến tranh du kích hay chiến thuật nhỏ lẻ bằng bộ đội đặc công.
 
Nhưng Lê Trọng Tấn kiên quyết phản đối. Ông muốn đánh theo phương châm nếu đủ quân số thì phải đánh cấp chiến dịch, quân số cấp sư đoàn phải đánh trận sư đoàn chứ không được đánh trận cấp tiểu đoàn. Nhiều quân nhân cấp dưới khi nghe ông phân tích, rút kinh nghiệm với nhiều cán bộ đã bật khóc, cuối cùng đều tin tưởng vào sự chỉ huy của Lê Trọng Tấn. Chính vì vậy mà chúng ta đã có cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và tổng tiến công năm 1975.
 
 
Đại tướng đã dành được nhiều phần thưởng cao quý
 
Trong hơn 30 năm tham gia trận mạc, Đại tướng Lê Trọng Tấn có mặt ở hầu hết các chiến trường. Nhưng có 2 chiến dịch lớn quan trọng, ghi dấu ấn trong cuộc đời trận mạc của Đại tướng chính là chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Lê Trọng Tấn, lần lượt đảm nhiệm các chức trách: Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân, Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự, Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp, Phó tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam,... Nhưng đáng nói hơn, ông là Tư lệnh của những chiến dịch lớn và quan trọng trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng - Dầu Tiếng, Đường 9 Nam Lào, Mặt trận Trị Thiên (B5); Tư lệnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng, Tư lệnh cánh quân duyên hải (do chính ông đề xuất thành lập) tiến vào Sài Gòn sớm nhất năm 1975; Tư lệnh chiến dịch biên giới Tây Nam 1978 - 1979 và biên giới phía Bắc 2-1979 lúc đó đã gần 70 tuổi, Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận. Lê Trọng Tấn là vị tướng trận mạc, ông luôn có mặt ở những chiến trường gai góc, ác liệt và nóng bỏng nhất, có khả năng làm xoay chuyển cục diện trận đánh, trăm trận trăm thắng. Các nhà khoa học quân sự và quân đội các nước anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm nhìn chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật quân sự kiệt xuất. Các cán bộ, chiến sĩ yêu mến gọi ông là “Giu-cốp của Việt Nam”, luôn đoàn kết, một lòng tin tưởng vào tài năng, đức độ, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán của mình.
 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác