Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Gương vượt khó

Trên thương trường

Cập nhật lúc 08:25 18/06/2020

(ĐTTA) - Nhập ngũ giữa lúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc sắp kết thúc, khi đất nước thống nhất, cựu chiến binh Đỗ Mạnh Thế trở về quê nhà làm kinh tế, xây dựng một thương hiệu bánh mứt cổ truyền Đỗ Thế Gia danh tiếng như hiện nay.

Từ anh làm bánh đến người lính hậu cần
 
Gia tộc họ Đỗ làm nghề bánh mứt đến ông Đỗ Mạnh Thế là đời thứ tư. Khởi nghiệp là cụ tổ Đỗ Năng Diễn (Lý Diễn) từ năm 1902 đã nổi tiếng với cửa hàng tên hiệu Xuân Lan, tại số 34 phố Hàng Đường và phố Hàng Vải Thâm (nay là Hàng Vải), Hà Nội. 
 
 
Từ tuổi niên thiếu, cậu Thế đã thạo nghề, ngoài thời gian đi học văn hóa, còn lại thường làm thuê cho một tiệm bánh ngọt ở Thụy Khuê. Ngày đó ông Thế thường làm tới 9 giờ tối, bắt xe điện đi được một trạm về đến dốc Tam Đa là hết giờ xe chạy. Chặng đường còn lại từ Tam Đa về Xuân Đỉnh phải đi bộ. Thỉnh thoảng có ngày được một người đi xe đạp nào đó cho quá giang một đoạn. Nhiều khi ông vẫy xe xin đi nhờ. Có người cho ngồi, nhưng cũng có người dừng xe, nhưng khi ông chạy đến gần họ lại đạp xe đi mất. Một thời gian dài, ông cũng dành dụm mua được cái xe đạp, đi về mới đỡ vất vả.
 
Tháng 4-1974, ông Thế nhập ngũ vào sư đoàn 338, tập trung huấn luyện tại Vĩnh Phúc chuẩn bị đi B2. 9 tháng sau, tháng 2-1975, đơn vị ông được lệnh đi B. Trước khi lên đường, cả đơn vị làm lễ hạ sao tại chùa Trăm Gian (Hà Tây) chuyển từ bộ đội sang Quân Giải phóng. Trong ký ức của ông đó là một buổi lễ rất trang trọng, linh thiêng. Mỗi người đều không biết ngày mai sẽ tới trận địa nào nhưng tất cả đều sẵn sàng đối mặt với mọi gian khổ, hy sinh. 
 
Từ chùa Trăm Gian, sư đoàn 338 nhận quân trang, quân lệnh Nam tiến. Đơn vị hành quân bằng tàu hỏa, ô tô, rồi hành quân bộ. Qua mấy tỉnh miền Trung, đến Quảng Bình tới Đường 9, vào nghỉ ở trạm khách Khe Sanh là đêm đầu tiên gặp cơn mưa rừng miền Nam. Đêm nằm ngủ trên võng một đầu võng buộc cái khăn mặt, một đầu buộc chiếc tất để thoát nước nhưng đến khi giật mình thức dậy thì dưới lưng ướt sũng cả. Ông Thế là đội trưởng, được phát một cái bật lửa, nhiều người bật lên soi đường nóng đến cháy cả cái bật. Ông những tưởng cái bật lửa đó sẽ theo mình dài dài. Vậy mà mới có một đêm thôi nó đã tiêu tan, mới nghiệm ra rằng sự gian lao vất vả, ác liệt ở chiến trường là không thể lường hết được. 
 
Hành quân bộ qua đường 74 – đường sang Lào, đơn vị được lệnh tập trung nghỉ tại nhà khách sân bay A Lưới – sân bay của ngụy, gọi là nhà nghỉ nhưng cũng chỉ có vài ngôi nhà nhỏ ở giữa bốn bề toàn cỏ tranh. Đêm xuống các đơn vị chỉ biết tiện đâu ngủ đấy, tất cả như một “nhà” vậy thôi. Hôm sau đơn vị lại hành quân tiếp, đi tới ngã sáu A Lưới thì lác đác gặp thương binh từ trong ngược ra. Lúc đó không ai hỏi, cũng không ai nói với ai tình hình chiến trận thế nào. Nếu có nói gì cũng chỉ hỏi nhau “ Đánh ở đâu, tên gì?”, chứ tuyệt nhiên không hỏi trong đó gian khổ, ác liệt thế nào. Hành quân dọc đường 74 trong một tuần, có những giờ phút rất thơ mộng, khi đơn vị lên đến thượng nguồn sông Hương. Nơi đó có rất nhiều thác nước cụm lại tạo thành một vùng nước rộng trong vắt, đứng trên bờ nhìn rõ từng viên đá cuội, từng lá cây in dưới đáy nước rất đẹp, xung quanh cây cối mọc sum suê… Có anh lính ngồi trên bờ, thậm chí leo cả lên cây ven bờ ngồi ngắm mình dưới nước. Nhiều anh nhảy xuống tắm, nước mát rượi. Ông Thế cho biết, sau này đi du lịch rất nhiều nơi nhưng không thấy đâu đẹp như nơi đó.
 
Khi đơn vị của ông Thế hành quân qua La Sơn, Huế, thì được lệnh lập ba-ri-e chặn đón xe dân để đi vào Đà Nẵng. Tới Đà Nẵng lại chặn xe lại cho quân Giải phóng xuống. Tối hôm đó tập trung đơn vị để biên chế về các đơn vị: pháo binh, bộ binh, vận tải, hậu cần. Ông Thế về Quân đoàn 2, Cục hậu cần. Nhiệm vụ của đơn vị là vận chuyển – chủ yếu là đeo, vác trên vai, chuẩn bị lương thực, đạn dược, thuốc men… Trước mỗi trận vào lót ổ, quân đến thì bổ sung, sau trận đánh lại vào thu dọn chiến trận. Hầu như phương tiện đi lại, súng đạn ta đều thu được của ngụy. Tất cả thực hiện một mệnh lệnh: Thần tốc – Quyết thắng. Từ Đà Nẵng trở vào toàn bộ các đơn vị hành quân ngày đêm không nghỉ. Mỗi khi đơn vị đi qua một vùng nào đó, nhân dân phấn khởi đứng hai bên đường tiếp tế, Quân Giải phóng cho xe chạy chậm lại để đón nhận. 
 
Trước 30 - 4 - 1975, đơn vị ông Thế hành quân qua Đồng Nai, sáng thức dậy xuống xe ở Long Thành, anh nào anh nấy từ đầu tới chân bụi đất đỏ phủ kín, không còn nhận ra nhau nữa. Theo kế hoạch đơn vị sẽ tới tập kết ở rừng cao su Long Thành nhưng tàn quân ngụy còn nên được lệnh dừng lại và chuyển vào rừng cao su Xuân Lộc. Trước ngày thống nhất đất nước một hai ngày, đơn vị ông Thế bị một trận pháo của ngụy. Lúc đó chưa kịp đào hầm gì, chỉ còn cách nhằm hố pháo của địch mà nằm xuống. Có anh đang đi vệ sinh gặp pháo ôm cả quần nhảy xuống hố pháo.
 
9h ngày 30 - 4 - 1975, đơn vị ông Thế vừa có mặt ở chân cầu Sài Gòn thì tin giải phóng đến. Nhiều đồng chí đứng lên nghẹn ngào buông một câu: “Sống rồi”. Theo ông Thế cảm giác của mọi người ai cũng vậy, bởi cứ nghĩ càng vào trong càng ác liệt, thậm chí nhiều người đã nghĩ khi giải phóng chắc sẽ nhận về không phải là một thành phố nguyên lành mà là một trận địa đổ nát, tan tành. Đơn vị vào Sài Gòn, hậu chiến có rất nhiều việc phải làm, các đơn vị chiến đấu đã rút đi còn lại lực lượng tiếp quản và hậu cần làm nhiệm vụ. Trong những công việc đơn vị của ông Thế thực hiện có việc tiếp nhận cả quân cảng. Nhưng để lại nỗi ám ảnh lớn nhất là việc vận chuyển tử sĩ. Ông đã vác trên vai không biết bao nhiêu đồng đội, máu thịt họ rơi chảy xuống khiến quần áo của ông bết cứng lại, sau phải lấy dao cắt từng mảng mới cởi bỏ ra được. Có người tối về ngồi ăn cơm từ trên đầu rơi xuống mảng thịt… Lạ thật, mọi người đều coi tất cả những điều đó như sự tất nhiên, không ai thấy hôi thối hay ghê sợ gì. Đến ngày 11- 5 thì có lệnh quay trở lại giữ tổng kho Long Bình.
 
Gian nan trở lại với nghề
 
Năm 1976, ông Thế được đơn vị cử đi học quân y. Trong thời gian học, ông nhận ra mình không hợp với ngành y nên đã xin về đơn vị. Sau ông cũng đã chuyển qua nhiều nơi, trong đó có khi làm tuyển thủ đội bóng Quân đoàn 2. Nhưng ông thấy với nghiệp thể thao mình không có khả năng trở thành cầu thủ chuyên nghiệp, chỉ tham gia ở mức độ phong trào. Cuối cùng thấy không hợp con đường binh nghiệp nên ông đã xin ra quân. Khi đó là tháng 2 - 1978, dự định về nhà ăn Tết xong sẽ trở lại miền Nam làm kinh tế. Nhưng gia đình khó khăn, em trai ông lại đi chiến đấu ở Campuchia nên kế hoạch của ông phải thay đổi.
 
Trở lại quê nhà, làng Xuân Đỉnh, Hà Nội, ông Thế xin đi làm công nhân chế biến thực phẩm rồi cưới vợ. Thấy cuộc sống của vợ chồng ông khó khăn, có phụ huynh học trò của vợ ông thương tình dạy cho nghề dệt len mút. Vậy là ngày ngày vợ ông một buổi đi dạy chữ cho học trò, một buổi đạp xe lên Hàng Buồm học nghề dệt mong có thêm thu nhập. Học được nghề rồi lại không có tiền mua máy dệt. Người chủ xưởng dệt thấy vậy lại nhượng lại cho chiếc máy cũ với giá 800 đồng. Hai vợ chồng bán hết quà cưới – chủ yếu là chậu men, được hơn 100 đồng, còn lại phải xoay sở vay mượn đủ kiểu mới gom đủ tiền lấy cái máy về nhà. Ngày ngày hai vợ chồng đi làm, đi dạy về đến nhà người thì ngồi dệt, người thì guồng sợi. Cứ như vậy đến khi vợ ông mang thai, không ngồi được máy nữa, ông quyết định bán máy. 
 
Năm 1981, ông Thế vẫn làm công nhân, ngoài đồng lương ít ỏi ông tăng gia bằng việc lấy trấu về sàng lại lấy cám – nói cho đúng là vỏ trấu nhỏ, nuôi lợn. Thức ăn không có chất nên ông nuôi cả năm nó cũng chẳng lớn được bao nhiêu, đã vậy lâu lâu còn quay ra ốm. Do có thời gian học y nên ông Thế thường tự mua thuốc về tiêm điều trị cho lợn. Một thời gian làm ăn chẳng ra sao nên qua năm 1982, ông bắt đầu làm bánh đổ cho cửa hàng tại Hàng Đường, Hàng Điếu. Khi ấy, ông được coi là một thợ có tay nghề cao, nhưng vì thời bao cấp nên việc làm bánh để bán chỉ làm lén lút, tranh thủ về đêm. Ngày đi làm thì bỏ vào cái cặp da – dạng như của các ông bưu tá, để ngụy trang thì buộc bên trên bó rau muống. Mọi người đều phải làm vậy để tránh con mắt của phòng thuế thương nghiệp. Ra đường cứ thấy ông nào có “kiểu” như vậy là nhận ra ngay, gặp nhau nhiều khi cười tủm tỉm mà chọc nhau “Rau của bác héo hết rồi kìa”, “Ừ, của mày thì tươi chắc”…  Ông Thế làm như vậy mấy năm, khách hàng ngày càng nhiều nên sau phải thuê đến cả chục người làm, tất cả đều là làm lén lút trên tầng hai. Ông kể khổ nhất là khi nhà có khách, trên tầng phải ngồi im thin thít, làm gì cũng phải hết sức nhẹ nhàng kẻo họ phát hiện. 
 
Mãi tới năm 1986, Nhà nước xoá bỏ bao cấp, việc làm ăn của ông Thế bước vào một giai đoạn mới. Ông thuê nhiều nhân công, những người trong làng đều là thợ lành nghề và cũng có cả người nơi khác đến học việc; xây dựng nhà xưởng đầu tư sản xuất hàng trăm loại bánh mứt khác nhau. Thương hiệu bánh mứt Hoàng Long chẳng những đã đứng vững trên thị trường mà còn có tiếng tăm trong giới sản xuất bánh mứt kẹo cổ truyền, được khách hàng gần xa tìm đến. Vào những dịp lễ, Tết như Trung Thu, Tết Nguyên đán, khách đến xếp hàng mua buôn, mua lẻ rất đông, tắc nghẹt cả con đường. Công nhân làm ngày đêm vẫn không đủ bánh để bán, nhiều khách mua buôn ở lại xưởng qua đêm để chờ cho được mẻ bánh mới ra lò. Khách đến mua lẻ thì chen chúc chẳng khác gì cảnh xếp hàng thời bao cấp. 
 
Tuy nhu cầu khách hàng là như vậy nhưng ông Thế vẫn đảm bảo nghiêm ngặt không cho sản xuất đại trà. Bởi hương liệu làm bánh được chưng cất tự nhiên, không phải loại hương liệu hóa học tổng hợp như các loại bánh mứt sản xuất theo kiểu công nghiệp, cũng không có bất kì một chất bảo quản nào. Tất cả các nguyên liệu nhập vào đều được đích thân ông kiểm tra phân loại kĩ lưỡng, đảm bảo chất lượng tốt nhất. Từng khâu, từng công đoạn trong việc làm ra một chiếc bánh cũng vậy. Mỗi khi xưởng vận hành là ông Thế phải có mặt ở đó thường xuyên. Ông có hàng trăm công nhân làm việc nhiều năm nhưng mỗi người chỉ đảm nhiệm từng khâu, từng công đoạn, chứ không mấy người làm được trọn vẹn các loại bánh mứt. Đến nay, xưởng sản xuất của ông đã tạo việc làm cho hơn trăm lao động cả thời vụ và lao động thường xuyên tại các cửa hàng. 
 
Năm 2009, ông Thế cho đổi tên từ Hoàng Long sang Đỗ Thế Gia – một cái tên gắn với gia tộc mình. Từ đó đến nay, thương hiệu bánh mứt Đỗ Thế Gia ngày một có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước, làm hài lòng mọi khách hàng dù là khó tính nhất. Tháng 10 - 2011, Đỗ Thế Gia được Hội Chống hàng giả và bảo vệ thương hiệu Hà Nội trao tặng “Thương hiệu vàng Thăng Long”; Tháng 01 - 2012 “Thương hiệu truyền thống, gia truyền nổi tiếng Hà Nội”, lần thứ I do Báo Người Hà Nội phối hợp cùng website:www.doanhnhanconghien.vn tổ chức và trao tặng… 
 
Ngoài thời gian điều hành xưởng sản xuất, kinh doanh bánh mứt cổ truyền, có thời gian ông Thế mở rộng việc kinh doanh sang các lĩnh vực dịch vụ như du lịch, hàng cafe, bất động sản…, nhưng tất cả chỉ là làm chơi, chứ không gắn bó và bỏ nhiều tâm huyết vào đó. Bên cạnh công việc bận rộn của một thương nhân, ông Thế còn tích cực tham gia hoạt động xã hội “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” như Hội Cựu chiến binh, Mặt trận Tổ quốc, câu lạc bộ bóng bàn…  
 
Đối với ông Đỗ Mạnh Thế quan điểm làm nghề cũng như làm người là phải chân thật, không gian dối. Sản xuất ra mỗi sản phẩm phải có cái Tâm đặt trong đó, để khách hàng khi thưởng thức sẽ cảm nhận và nhớ mãi hương vị cổ truyền của dân tộc. Ông luôn tâm niệm: mọi danh lợi trong cuộc đời đều là hư vô hết, chỉ cần sống thanh thản, không phải lo tranh giành đối phó với ai. Như vậy một mặt là cách giáo dục con cái, mặt khác bản thân sẽ thấy vui vẻ, hạnh phúc.
 
Đỗ Tùng Lâm
 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác