Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0963.53.88.39 | Email: tapchitrian@gmail.com

Kinh tế

Hết dự phòng, năm 2021 “đói” điện trầm trọng?

Cập nhật lúc 06:10 24/06/2019

Hệ thống điện quốc gia đang phải vận hành trong tình trạng hầu như không còn dự phòng, điều này cảnh báo việc thiếu hụt nguồn cung ứng điện đang đến rất gần.

Quy hoạch điện VII điều chỉnh giai đoạn 2016 - 2030 có tổng cộng 116 dự án nguồn điện đưa vào vận hành, chưa bao gồm các nguồn năng lượng tái tạo chưa ghi rõ tên hoặc chưa lập dự án.

Thiếu điện từ năm 2021

Theo Bộ Công Thương, trong giai đoạn 2016 - 2020, sẽ đưa vào vận hành tổng cộng 21.651 MW và đến năm 2020 tổng công suất các nhà máy điện khoảng 60.000 MW. Trong đó, thủy điện lớn và thủy điện tích năng chiếm 30,1%; Nhiệt điện than và khí khoảng 57,6%; nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo khoảng 9,9%; nhập khẩu điện khoảng 2,4%.

Dự án nhiệt điện Thái Bình II chậm tiến độ đã 2 năm

Giai đoạn đến năm 2025, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 96.500 MW và đưa vào vận hành 38.010 MW. Giai đoạn đến năm 2030 tổng công suất các nhà máy điện là 129.500 MW, trong giai đoạn này cũng sẽ đưa vào vận hành 36.192 MW.

Quy hoạch điện VII điều chỉnh dự báo sản lượng điện thương phẩm đến năm 2020 theo các phương án cơ sở là 235 tỉ kWh và phương án cao là 245 tỉ kWh. Theo đó, với tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân trong giai đoạn 2016 -2020 của các phương án tương ứng là 10,34%/năm và 11,26%/năm. Cũng theo Bộ Công Thương, thực tế trong thời gian qua, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2016 -2018 là 10,3%.

Các năm 2019 - 2020 dự kiến đưa vào vận hành khoảng 6.900 MW, trong đó các nhà máy nhiệt điện than là 2.488 MW, nhà máy thủy điện là 592 MW, còn lại là dự án năng lượng tái tạo khoảng 3.800 MW. Bộ Công thương cũng cho biết thêm, đến năm 2021 - 2025 mặc dù phải huy động tối đa nguồn điện chạy dầu nhưng hệ thống điện không đáp ứng nhu cầu phụ tải và xảy ra tình trạng thiếu điện miền Nam, với mức thiếu hụt từ khoảng 3,7 tỉ kWh (năm 2021) lên gần 10 tỉ kWh (năm 2022). Mức thiếu hụt cao nhất vào năm 2023 khoảng 12 tỉ kWh và sau đó giảm dần xuống 7 tỉ kWh năm 2024 và 3,5 tỉ năm 2025.

Trong khi đó, tổng công suất các nguồn điện có khả năng đưa vào vận hành cả giai đoạn 15 năm 2016 - 2030, dự kiến khoảng 80.500 MW, thấp hơn so với dự kiến hơn 15.200 MW. Nhiều dự án chậm tiến độ và hầu hết là dự án nhiệt điện tại miền Nam. Do đó, tình trạng hệ thống điện từ có dự phòng về nguồn điện 20-30% trong các năm 2015-2016, đến năm 2018-2019 hầu như không còn dự phòng và sang giai đoạn 2021- 2025 xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung cấp điện.

Nhiều dự án chậm tiến độ

Bộ Công Thương cho rằng, nguyên nhân chính dẫn đến thiếu điện tại miền Nam tăng cao hơn so với tính toán trước đây là do các dự án chậm tiến độ như dự án khí Lô B, Cá Voi Xanh đều chậm so với kế hoạch từ 9 tháng đến 1 năm; dự án nhiệt điện Kiên Giang 1&2 không đáp ứng tiến độ, có thể lùi sau năm 2030; dự án Ô Môn III lùi tiến độ đến năm 2025…

Các dự án nhiệt điện Thái Bình II, Long Phú 1, Sông Hậu 1 đến nay đã chậm tiến độ 2 năm; Các dự án đang trong quá trình đàm phán (đầu tư theo hình thức BOT) như: Sơn Mỹ 1, Sông Hậu 3, Long Phú 2, Nam Định 1, Quảng Trị 1… còn tiềm ẩn rủi ro lớn về tiến độ. Một số dự án lớn chưa xác định được chủ đầu tư như Long Phú 3, Quỳnh Lập 2… nên khó hoàn thành trước năm 2030.

Bên cạnh đó, việc cấp nguyên liệu cho phát điện còn tiềm ẩn rủi ro. Chẳng hạn như, cấp than cho điện chưa đáp ứng được yêu cầu cả khối lượng và chủng loại than. Một số dự án chưa thỏa thuận được địa điểm trung chuyển, thậm chí chưa rõ phương án vận chuyển than như Long Phú 2, Sông Hậu 2. Việc cung cấp khí dự kiến đến năm 2023-2024 cũng thiếu hụt khoảng 2-3 tỉ m3/năm và tăng lên 10 tỉ m3vào năm 2030.Ngoài ra là các yếu tố khác như đường dây 500 kV mạch 3 bị chậm tiến độ gần 1 năm, hệ thống nguồn điện không có vận hành ổn định…

Theo Báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp

Chia sẻ:

Các tin khác

Danh sách liệt sĩ đã quy tập

  Tên chiến sĩ Quê quán
1 Nguyễn Xương Thái Bình
2 Nguyễn Văn Tuy Thái Bình
3 Phạm Văn Tuấn Thái Bình
4 Vũ Văn Tiến Thái Bình
5 Tèo Thái Bình