Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Quốc tế

Somalia một thời từng là “Thuỵ Sĩ của Châu Phi”

Cập nhật lúc 18:21 31/10/2016

Đất nước Somalia nghèo đói và hỗn loạn thời điểm hiện tại khiến nhiều người quên mất rằng Somalia từng được gọi là “Thuỵ Sĩ của Châu Phi” với một quá khứ huy hoàng và thịnh vượng.

Thủ đô Mogadishu của Somalia, năm 1960.

Lịch sử thời hiện đại của Somalia có thể gói gọn trong một câu đơn giản: Độc lập, thịnh vượng và dân chủ trong những năm 1960, chế độ độc tài quân sự trong những năm 1970 và sau năm 1980 là cuộc nội chiến đưa đất nước này vào nghèo đói và bất ổn.

Chiến tranh đã đẩy hàng triệu người Somalia vào các trại tị nạn, sang các nước láng giềng. Hàng trăm ngàn người đến Vương quốc Anh, Canada và Hoa Kỳ và một vài nước châu Âu.

Somalia giành được độc lập từ Anh, Pháp và Italy vào năm 1960.  Một cuộc bầu cử tự do và công bằng được tổ chức, và chính phủ dân chủ đưa đất nược phát triển trong những năm 1960-1969. Nhưng Somalia ngày nay đồng nghĩa với nghèo đói, thất nghiệp, bạo lực, và cướp biển.

Tổng thống đầu tiên được bầu của Somalia là Adam Abdullah Osman đã lãnh đạo đất nước Cộng hoà dân chủ Somalia hình thành nên từ sự thống nhất các thuộc địa cũ của nước Anh và Italia, trong 7 năm.

Người kế tục tổng thống Osman – Thủ tướng Abdirashid Ali Sharmarke cũng đã thành công trong việc quản lý đất nước Somalia trải qua tự do và hòa bình. Nhưng ông Sharmarke đã bị một vệ sĩ riêng của mình ám sát vào năm 1969.Người kế nhiệm ông - Thủ tướng Mukhtar Mohamed Hussein vừa quản lý đất nước được 6 ngày ngắn ngủi thì bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính quân sự do tướng Siad Barre cầm đầu.

Tướng Siad Barre.

Tuy giành lấy đất nước bằng vũ lực, song trong 22 năm lãnh đạo, tướng Siad Barre và chính quyền quân sự của ông ta vẫn đưa đất nước Somalia trở nên hiện đại, xây dựng một quân đội thuộc hàng mạnh nhất của châu Phi, cải thiện mạnh về địa vị của phụ nữ và đạt nhiều thành tựu về giáo dục, tái định cư, phát triển kinh tế cũng như nâng cao mức sống của đa số nhân dân. 

Phụ nữ Mogadishu chào hỏi nhau khi gặp mặt.

Nữ nông dân Somali.

Tuy nhiên, ở khía cạnh tiêu cực, chính quyền quân sự ở Somalia đã giải tán Quốc hội, đình chỉ hiến pháp, cấm các đảng phái chính trị hoạt động, bắt giữ và giam cầm các chính trị gia, và hạn chế báo chí.

"Từ đó, đã có xu hướng suy thoái trong tất cả mọi lĩnh vực. Đó là sự tan rã. Và một khi tình hình xã hội càng tồi tệ đi, thì chế độ quân sự càng trở nên tàn bạo và độc tài hơn" - Jama Mohamed Ghalib - một cựu bộ trưởng trong chính phủ Somalia, nói.

Việc tướng Barre phát động cuộc chiến tranh Ogaden vào năm 1977, nhằm chiếm những khu vực ở Ethiopia nơi người Somalia là đa số, đã gây nên sự phản đối quốc tế nghiêm trọng, trong đó có Liên Xô từng ủng hộ chính quyền Barre đã quay sang ủng hộ Ethiopia. Quân đội Somalia đã thua trận và phải rút lui.

Phong trào chống lại chính quyền Barre tăng dần, tháng 5/1988, với sự ủng hộ của Ethiopia, các bộ lạc phía Bắc Somalia ở các vùng từng là thuộc địa của Anh đã nổi dậy chống lại chế độ độc tài Barre. Lực lượng này tương đối mạnh, xung đột khiến hàng ngàn người ở bắc Somalia thiệt mạng.

Ba năm sau, vào năm 1991, các bộ lạc ở phía Bắc và phía Nam Somalia, tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ Ethiopia, lại nổi dậy chống lại Barre. Quyền lực giảm, các đồng minh cũ bỏ rơi, cuối cùng tướng Barre cũng phải từ nhiệm. Kết quả là khu vực phía Bắc tuyên bố độc lập với lên là Somalialand. Vùng này, tới nay vẫn ly khai khỏi Somalia nhưng hầu như không được quốc tế công nhận.

Cuộc nội chiến kéo dài giữa các lực lượng tại Somalia có sự can thiệp thường xuyên của các thế lực nước ngoài. Năm 2006, Liên minh Tòa án Hồi giáo chia rẽ thành nhiều phe phái, một trong số đó là Al Shabab. Các nhóm cực đoan vẫn kiểm soát phần lớn phía nam của đất nước Somalia ngày nay.

Hình ảnh một công trình cổ ở Mogadishu đổ nát do chiến tranh trên bìa một tạp chí năm 2012.

"Nếu Siad Barre rời bỏ quyền lực sớm hơn 2 năm, và tuyên bố: "Bây giờ, ở Somalia, các bạn có thể tổ chức các cuộc bầu cử mới” thì những xung đột đã không xảy ra. Nhưng ông ta đàn áp dân chủ ở nhiều nơi trong nước, và nhân dân, từ trong ý thức, đã muốn trốn chạy khỏi ông ta” - Abdi Samatar - giáo sư địa lý tại Đại học Minnesota – một người gốc Somalia, nói.

Một ngư dân Somali vác con cá kiếm vừa câu được ra chợ bán.

Đáng buồn là việc viện trợ ồ ạt của Liên Hợp Quốc trong những năm 1990 và 2000 đã vô tình dẫn đến sự sụp đổ của ngành nông nghiệp Somalia, khiến nhiều nông dân tái nghèo. Đồng thời, nhiều tàu lớn của nước ngoài đánh bắt cá trong vùng biển Somalia cũng đã gián tiếp khiến nhiều ngư dân và nông dân thất nghiệp trở thành hải tặc – điều đã định hình trong tâm trí của nhiều người trên thế giới khi nghĩ đến với Somalia.

Một nhóm cướp biển Somali.

Tiến trình khôi phục đất nước Somalia vẫn còn có nhiều cản trở, đơn cử cuộc bầu cử tổng thống dân chủ đầu tiên ở Somalia sau nhiều năm lại vừa bị trì hoãn. 

Một phụ nữ Somali ngày nay.

Somalia đã được người Ai Cập cổ đại khám phá ra và gọi là “Đất Punt”. Người Somalia từ xa xưa thu hoạch các loại nhựa cây chứa hương liệu, trầm hương, và thảo dược rồi xuất khẩu đến Ai Cập. Punt cũng được nhắc đến trong Kinh Thánh, và La Mã cổ đại gọi nó là Cape Aromatica. Samaal (hoặc Samale) là “Người cha huyền thoại” trong tín ngưỡng chung của người dân Somalia.

Người dân Somalia dùng ngôn ngữ chung, tiếng Somalia, và hầu hết là người Hồi giáo dòng Sunni. Người Somalia cũng sống ở miền bắc Kenya; trong khu vực Ogaden (đông Ethiopia); ở Djibouti. Bất chấp biên giới quốc gia, tất cả người Somalia tự coi mình thuộc một dân tộc. Sự kết hợp này làm cho họ trở thành một trong những nhóm dân tộc lớn nhất của châu Phi. Người Somalia cũng dùng tiếng Arab, nhưng chỉ giới hạn trong các hoạt động tín ngưỡng.

Trước năm 1960, có nhiều bộ tộc sống theo kiểu du mục ở Somalia.

Một phụ nữ du mục Somali dựng loại lều aqal của họ tại nơi ở mới. Aqal là loại lều cổ truyền dễ dựng lên, dễ tháo lắp.

Somalia nằm trên rìa bán đảo Somalia, cũng được gọi là vùng Sừng châu Phi, trên bờ biển Đông Phi. Nó giáp về phía bắc của Vịnh Aden, phía đông Ấn Độ Dương, về phía tây nam của Kenya, và về phía tây và tây bắc của Ethiopia và Djibouti.

Diện tích Somalia là khoảng 637.658 kilômét vuông, có đường bờ biển dài khoảng 2.896 km. Somalia nóng quanh năm, thời tiết có 4 mùa: 2 mùa mưa và 2 mùa khô. Thảm thực vật nói chung là thưa thớt, ngoại trừ ở khu vực giữa Jubba và sông Shabeelle trong trung-nam Somalia.

Trong 2 mùa mưa, từ tháng 4 đến tháng 6 và từ tháng 10 đến tháng 11 hằng năm, khu vực này cung cấp rất nhiều nước cho nông nghiệp.

Phụ nữ Somalia trong trang phục tôn giáo truyền thống.

Thành phố cảng Mogadishu ở đông nam Somalia, nhìn ra Ấn Độ Dương, là thành phố lớn nhất và là thủ đô truyền thống của Somalia. Mogadishu đã bị phá hủy trong cuộc nội chiến giữa các bộ tộc trong những năm 1990. Năm 2000, một hội nghị hoà bình đã được tổ chức và đưa ra quyết định di chuyển các cơ quan chức chính phủ đến thành phố Baidoa ở phía tây bắc Mogadishu.

Một cô gái Somali trong trang phục truyền thống Guitiino – loại áo váy cuốn quanh người mà thực chất là một tấm vài dài.

Có lẽ những nỗ lực lớn nhất trong công cuộc đổi mới của Somalia được đưa ra trong hai thập niên 1960 và 1970 - những năm đầu của thời kỳ độc lập, và khoảng 10 năm đầu của chế độ Siad Barre. Barre đã cố gắng duy trì sự lãnh đạo dựa trên thoả hiệp với các gia tộc và bộ lạc. Nhiều người du mục đã được định cư, trở thành nông dân, chủ trang trại, hoặc ngư dân. Dưới thời Barre, vị thế của phụ nữ được cải thiện, một bảng chữ cái đã được tạo ra từ năm 1973 khiến tiếng Somalia lần đầu trở thành ngôn ngữ có chữ viết, chính quyền rất nỗ lực xóa mù chữ và cải thiện giáo dục. Cả Mỹ và Liên Xô đã hỗ trợ nhiều cho chính quyền Somalia trong khoảng 2 thập niên.

Các tổ chức phi chính phủ cùng các hiệp hội nhân đạo đã trợ giúp cho Somalia trong hàng chục năm qua, cứu đói và chữa bệnh tại đây trong thời gian cuối những năm 1980 – 1990, như Hội Chữ thập đỏ Quốc tế, Tổ chức Bác sĩ không biên giới, Tổ chức Trăng lưỡi liềm đỏ, Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hợp Quốc (UN), Tổ chức Hợp tác Hỗ trợ và cứu trợ ở mọi nơi (CARE)...

Trong năm 2000 - 2001, một chục cơ quan của Liên Hợp Quốc, trong đó có Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã cung cấp tất cả các loại viện trợ cho Somalia. Hỗ trợ còn đến từ các tổ chức phi chính phủ (NGO) từ cả trong và ngoài nước.

Trong năm 1994, một nhóm phụ nữ Somalia được giáo dục ở các nước phương Tây trở về quê hương để giúp phụ nữ Somalia xây dựng lại nền kinh tế bằng cách kinh doanh cá nhân. Nhóm mang tên “Niềm tin của phụ nữ Somalia”, cũng đã giúp thành lập các trường học của trẻ em gái và các trung tâm sức khỏe phụ nữ, và giúp thiết lập lại những trại tị nạn tại Somalia. Một nhóm khác phụ nữ Somalia, Candlelight, cũng cung cấp các dịch vụ trợ giúp miễn phí tương tự.

Đỗ Đức (Theo Al Jazeera và Everyculture)

 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác