Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Thiện tâm

Những người gieo chữ giữa đại ngàn (Bài 1)

Cập nhật lúc 10:07 07/06/2018

Giữa “tâm lõi” của rừng quốc gia Cát Tiên (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng) có hai ngôi trường đặc biệt ở thôn 3 và thôn 4 thuộc Trường tiểu học Phước Cát 2. Gọi là ngôi trường đặc biệt bởi điểm trường này nằm ở giữa rừng sâu, núi thẳm và 100% học sinh ở đây là người đồng bào dân tộc thiểu số S Tiêng và Châu Mạ. Ở giữa đại ngàn ấy, có các thầy cô giáo ngày đêm cần mẫn gieo chữ cho các em học sinh với một khát vọng truyền con chữ giúp thoát đói nghèo cho đồng bào thôn bản ở đây.

Bài 1: MỘT THỜI DỰNG LÁN GIỮA RỪNG

Gần 30 năm trước, điểm trường thôn 3 bây giờ là rừng sâu núi cao, thú dữ chim muông và không có dấu chân người. Gần 30 năm sau là dãy trường dạy chữ bốn phòng liền kề. Dù cơ sở vật chất, bàn ghế không khang trang, hiện đại như miền xuôi, đô thị; nhưng là nơi truyền chữ và thắp sáng tri thức cho nhiều thế hệ học sinh; là niềm tự hào kiêu hãnh của người dân thôn bản làng nơi hẻo lánh này.

Vượt 250km từ thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đến Trường tiểu học Phước Cát 2 thuộc xã Phước Cát, huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng một ngày cuối tuần để tặng quà cho các em học sinh ở đây. Xa vời với những cổng trường nơi thị thành tấp nập hoặc miền xuôi, cổng trường ở đây dựng bằng tre rừng. Dưới tán điều già cỗi, các em học sinh chơi trên nền đất, tóc em nào cũng đỏ quạch. Nhiều em đi chân đất đến trường. Thầy giáo Nguyễn Văn Nam, Phó hiệu trưởng nói: “Trường tiểu học Phước Cát 2 có 5 điểm trường. Đây là điểm trường chính. Các em học sinh ở đây còn khá hơn đấy. Cách đây 25 km là điểm trường Thôn 3, thêm 5 km nữa là điểm trường thôn 4. Hai điểm trường này khó khăn nghèo nàn nhất vì nằm ở tâm lõi của rừng Quốc gia Cát Tiên. 100% học sinh người đồng bào dân tộc thiểu số S Tiêng, Châu Mạ”

Sau khi xếp lại hành lý, theo xe máy của thầy Nam, xe chúng tôi “bò” đến điểm trường thôn 3 (phân hiệu 3) trên con đường Bê-tông rộng chưa đầy 3 mét. Đây là điểm trường nghèo khó nhất trong hệ thống cơ sở hạ tầng giáo dục ở tỉnh Lâm Đồng tính đến thời điểm này. Để đến được đây, chúng tôi phải chúng tôi vượt 25 km ngoằn nghoèo khúc khỉu. Thầy Nam cho biết, một năm trước, con đường trải bê-tông bây giờ là đường mòn lau sậy. Trời mưa trơn trượt đất bám không nhấc nổi chân người. Mùa nắng đến được trường phải leo qua ba “cổng trời” cheo leo giữa sườn đồi. “Ngày ấy khó khăn lắm chứ đâu được như bây giờ. Nhưng bù, các em được học cái chữ, biết nói tiếng kinh, nhận biết được muốn thoát nghèo thì phải đi học thì dù khó khăn gian khổ mấy chúng tôi cũng chịu được”. Thầy Nam tự hào.

Để đến được điểm trường thôn 4, các thầy giáo phải luồn rừng. Ảnh: Nguyễn Dũng

Là người đầu tiên đến đại ngàn này gieo chữ, thầy Nam không nhớ hết được bước chân thầy đã đi bao lần đến bản làng vận động học sinh đi học, bao lần đạp xe vượt vừng đến trường gieo chữ, nhưng có một việc thầy không thể nào quên, đó là những ngày đầu tiên dựng lán giữa rừng dạy chữ làm chúng tôi rơi nước mắt. Thầy kể lại, năm 1987, điểm trường thôn 3 và thôn 4 được thành lập. Ngày ấy  thôn 3 bây giờ là rừng sâu núi cao, thú dữ chim muông và không có dấu chân người. Ở giữa rừng sâu này, lũ trẻ chưa bao giờ nhìn thấy con chữ, ngày cặm cụi mò cá dưới suối, lên rẫy bẫy chim, đêm chìm trong màn sương dày đặc của núi rừng. Để có chỗ cho học sinh học, thầy đã cùng với thanh niên trong bản vào rừng chặt cây dựng lớp. “Cây rừng làm cột, lá cọ làm mái che, tre rừng làm bàn học. San phẳng vạt đồi để dựng lớp trên đó. Gọi là lớp học chứ thực tế nó như cái chòi lá giữa rừng sâu”, thầy Nam hồi tưởng lại

Dựng xong lớp, nhưng học sinh ở đâu để dạy khi những đứa trẻ ở đây chỉ quen theo mẹ lên rẫy trỉa bắp, vào rừng đào măng, xuống suối mò cá, chưa hề nghe đến chuyện học chữ bao giờ. Thầy Nam nghĩ trong đầu: “Con đường thoát nghèo phải bắt đầu từ con chữ” - cuộc vận động học sinh đến trường bắt đầu.

Tấm lòng nhiệt huyết của thầy giáo trẻ tuổi chẳng quản khó khăn gian khổ. Được cán bộ xã giúp đỡ, thầy lặn lội đến từng gia đình vận động các em học sinh đi học. Những ngày đầu đi vận động, thầy không khỏi thất vọng vì bố mẹ các em chỉ muốn con mình lên rẫy trỉa bắp, trồng mì mà không muốn cho con đi học chữ. Có phụ huynh nói thẳng “tao không biết con chữ đâu, để nó ở nhà đi rừng kiếm gạo cho no cái bụng”. Nhưng thầy Nam thuyết phục nhiều lần, cuối cùng họ cũng cho con đến trường. Ngày đầu tiên đứng trên bục giảng cũng là ngày thầy rơi nước mắt. Thầy khóc vì thương các em học sinh quá nghèo. Có em đến lớp mặc manh áo rách, có học sinh địu cả em nhỏ theo.

Giáo viên khó khăn, đồng bào lạc hậu

Trường Tiểu học Phước Cát 2 có 5 điểm trường, trong đó 2 điểm trường ở thôn 3 và thôn 4 là khó khăn nhất. Từ điểm trường chính đến điểm trường thôn 3 cách 25 km. Tuy đã được trải Bê-tông, song phải vượt ba “cổng trời” sườn dốc mới đến được nơi. Từ điểm trường thôn 3, muốn đến điểm trường thôn 4 phải luồn rừng lội suối 5 km nữa. Điểm trường thôn 3 có 4 phòng học nhưng có đến 6 lớp học từ mầm non đến lớp 5. Do vậy lớp 2 phải học ghép với lớp 3, còn lớp 4 ghép với lớp 5 nhưng chỉ có ba giáo viên dạy học.

Em Điểu Thị Vien, học sinh lớp 4 điểm trường thôn bốn đọc môn Tiếng Việt. Ảnh: Nguyễn Dũng

Cô hiệu trưởng Nguyễn Thị Thu Hằng cho biết, cái khó khăn nhất hiện nay của hai điểm trường này là không có điện. Ngày nắng, các em học sinh ngồi dưới nóng hầm hập do nắng từ mái tôn hắt xuống. “Các thầy cô giáo ở thôn 3 tự đào giếng lấy nước ăn, còn ở thôn 4, tất cả ăn uống tắm giặt đều dùng nước suối. Để đỡ vất vả, chúng tôi dùng ống nứa, luồng dẫn nước về. Mỗi điểm trường đều có nhà  tạm cho giáo viên độc thân ở, vừa dạy chữ buổi tối cho bà con trong thôn. Do chưa có điện nên đời sống tinh thần ở đây gặp khó khăn. Tối đến, các cô dạy chữ cho bà con trong thôn bằng đèn dầu”, cô Hằng chia sẻ

Hai điểm trường thôn 3 và thôn 4 “cắm” trong lòng dân thôn bản người dân tộc S Tiêng và Châu Mạ, đó cũng là cái khó cho việc dạy học ở đây. Muốn các em biết cái chữ, việc đầu tiên là dạy tiếng kinh.  Trước dây, có học sinh học đến 3 năm vẫn chỉ nói bập vẹ được tiếng kinh, có đứa trẻ 16 tuổi mới học lớp hai, có thanh niên lấy chồng sinh con rồi mới đi học chữ. “Công việc chủ yếu của đồng bào thôn bản là lên rẫy, vào rừng đào măng, xuống suối mò cá. Thức ăn chủ yếu của họ là lá nhíp và đọt mây, đời sống kinh tế còn khó khăn lắm nên không mấy khi tiếp cận với chữ nghĩa, sách vở”, cô Hằng cho biết.

Mỗi lần có khách đến thăm hoặc mạnh thường quân từ miền xuôi lên tặng quà cho các em học sinh thôn 3, thôn 4, đều được nghe câu chuyện người hiến đất xây trường. Đó là ông Điểu K-Trang. Ông không phải là già làng, nhưng đã gắn bó với mảnh đất đại ngàn này hơn 50 năm qua. Ông Điểu K-Nốt, trưởng thôn 3 cho biết, năm 2013, ông Điểu K-Trang đã tự nguyện hiến 3 sào đất để xây trường học. Bản thân ông K-Trang và con ông cũng không biết chữ. Nhờ có ba sào đất này, mà ngôi trường mang tiên “Phiên hiệu Thôn 3” được xây dựng. Từ ngày có ngôi trường mới, có cụ già tuổi trên 60 hằng tối vẫn đến lớp chong đèn học chữ. Nhiều thanh niên trong thôn thì tranh thủ giờ buổi trưa, buổi chiều đến học. Điểm trường thôn 3 thôn 4 đã trở thành niềm tự hào, kiêu hãnh của giáo viên, học sinh và bà con thôn bản nơi đây. Bởi nó vừa và nơi dạy học cho học sinh, vừa là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Mai Thắng

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác