Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Tìm kiếm, quy tập

Hành trình tìm chú

Cập nhật lúc 16:57 24/09/2016

Hơn 10 năm trời gia đình tôi gia công tìm người thân, liệt sĩ Đỗ Ngọc Ca mà chưa tìm thấy. Nỗi buồn chưa bao giờ nguôi trong lòng mỗi thành viên trong gia đình.

I: Gia đình

   Giấy báo tử của quân khu Tây Bắc số 80, ngày 26.10.1971 báo tin chú tôi là Đỗ Ngọc Ca đã hy sinh tại mặt trận phía tây, thi hài mai táng tại mặt trận phía tây; được xác nhận là liệt sỹ. Địa phương tiếp nhận và tổ chức lễ truy điệu chú tại nhà tôi vào cuối tháng 3 năm 1973.

  Ông bà nội tôi sinh được 3 người con. Bố tôi ông (Đỗ Thanh Phong) là trưởng. Trong khi ông đang chiến đấu ở chiến trường B, thì chú thứ hai là Đỗ Ngọc Ca nhập ngũ, tham gia chiến đấu ở mặt trận phía Tây. Chú thứ ba là Đỗ Tấn Ban – đi học chuyên nghiệp rồi công tác tại ngành dầu khí. Trước khi nhập ngũ, chú Đỗ Ngọc Ca là cán bộ công tác tại nông trường Mộc Châu – là chiến sỹ thi đua nhiều năm liền, rất có uy tín. Cơ quan giữ lại để bồi dưỡng nguồn, nhưng chú tôi cứ nằng nặc xin đi. Ba năm sau thì chú mất.

Anh và em của liệt sỹ Đỗ Ngọc Ca

Ông nội tôi, ông Đỗ Văn Tuyết trong kháng chiến chống thực dân Pháp tham gia kháng chiến, làm trưởng thôn và tham gia tổ chức nông hội, làm các công việc vận động đóng thuế nông nghiệp, tổ chức đưa thóc ra vùng tự do đóng góp cho kháng chiến. Năm 1953, trong một trận càn, do lực lượng địch đông quá, ông nội tôi và 10 người khác, được lệnh rút xuống hầm. Một cán bộ xã bị địch bắt và tra tấn đau quá không chịu được nên đã chỉ ra căn hầm bí mật này. Bọn lính Lê dương và ngụy quân sau khi thả 3 người phụ nữ, chúng trói những người còn lại kéo ra cạnh bờ ao ở giữa thôn, xả súng bắn chết. Lúc đó bố tôi mới 16 tuổi, các chú vẫn còn nhỏ, chú út mới sáu tuổi. Chú út, buổi sáng tỉnh dậy cuống quýt tìm mẹ, ngã xuống đất, má bị mấu đòn gánh đâm vào, bây giờ trên má vẫn còn vết sẹo. Bà tôi lam lũ, nuôi ba con còn nhỏ dại.

    Khi ông nội mất, họ hàng bàn nhau cưới vợ cho bố tôi để thêm người làm phụ giúp bà nội. Người mà gia đình nhắm tới hỏi làm vợ cho bố, là mẹ tôi bây giờ. Lúc đó bà là cô gái cập kê tuổi đôi mươi xinh xắn, giỏi giang chợ búa, tối tối lại ngồi bên khung cửi dệt vải, thi thoảng cất tiếng hát, làm ấm cả ba gian nhà tường đất, mái tranh nhỏ bé nằm ở đầu làng. Rồi bà tham gia sinh hoạt thanh niên thường dạy thiếu nhi múa hát. Vốn có chút nhan sắc, hay lam hay làm và thích văn nghệ, bà được nhiều trai làng cảm mến, đặt vấn đề. Nhiều anh vệ quốc đoàn, có súng ngắn đeo bên hông, nhiều cán bộ cấp xã, huyện…đến dập dìu trước ngõ, nhưng bà chưa ưng ai cả.

   Ngày ông nội tôi mất, mẹ tôi đang đi buôn bán xa nhà. Trong một đêm gần tết, giá rét đến tê cứng cả người, ông anh con bác phía mẹ tôi dìu mẹ bơi qua sông về làng cưới chạy tang. Đám cưới được tổ chức nhanh gọn ngay sau trận càn khốc liệt vừa diễn ra. Sở dĩ bố tôi lấy được mẹ tôi là do ông nội và ông ngoại tôi vốn là bạn cố tri, có hứa hẹn gả con cho nhau. Ông ngoại tôi là thủ quỹ cho tổ chức nông hội xã, nên thường được gọi là ông thủ Kinh (ông ngoại tôi tên là Đỗ Khắc Kinh). Ông bị địch bắn chết trong một trận địch càn vào xã  năm 1950. Cái mất của ông ngoại, ông nội tôi đã tác hợp cho cuộc hôn nhân của bố mẹ tôi.

   Mẹ tôi hơn bố tôi 4 tuổi, về làm dâu trong cảnh gia đình nhà chồng neo bấn và nghèo. Một điều buồn hơn là năm sau, bà nội tôi vì phiền muộn, vì lam lũ nên bị cảm thương hàn mà mất. Mẹ tôi trở thành sợi dây neo trụ lại “ con tàu”  có ba anh em trai, tuổi và độ chín đều chưa đủ để làm chủ được gia đình. Mẹ tôi nổi lên là người lớn tuổi hơn đủ độ chín chắn để làm “thuyền trưởng” , không để xẩy ra cuộc tan đàn, xẻ nghé của một gia đình mà chỉ trong thời gian ngắn đã xảy ra nhiều biến cố đau thương.

  Khi chú tôi hy sinh, được công nhận là liệt sỹ, thì mẹ tôi được công nhận là người có công nuôi dưỡng liệt sỹ. Nhưng không hiểu vì sao khi chế độ đó được trên chuyển về xã, thực hiện chính sách với mẹ tôi, thì xã lại chuyển trả lại huyện không thực hiện. Mặc dù lúc đó, mẹ tôi một nách năm con thơ, chúng tôi có phụ cấp đi B của bố để lại nhưng gia đình tôi vẫn còn nheo nhóc. Chuyện mẹ tôi chưa được hưởng chế độ nuôi dưỡng liệt sỹ đến nay vẫn tồn tại như thế, không có gì thay đổi. Gia đình tôi đã để chuyện đó đi vào dĩ vãng.

     Một điều khiến gia đình tôi choáng váng là trong buổi làm lễ truy điệu cho chú tôi, thì mọi người xì xào truyền tai nhau, sau lễ truy điệu của chú tôi, một thời gian nữa sẽ làm tiếp lễ truy điệu cho bố tôi. Từ ngày bố tôi vào chiến trường đến khi “đón” chú tôi về, ông chưa hề gửi một lá thư nào về nhà. Mẹ tôi còn giữ được một mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay, bố tôi viết, thông báo vắn tắt: Bố đã lên đường đi B. Năm anh em chúng tôi cứ thế lớn lên trong gian khó. Chú Đỗ Tấn Ban trở thành trụ cột tinh thần của gia đình tôi trong thời điểm gian khó đó. Chú tôi dành nhiều tình cảm cho gia đình, cho các cháu. Có những tết chú đạp xe từ Cẩm Giàng (Hải Dương) về nhà chiều 30 tết đón giao thừa cùng chị và các cháu. Sáng mùng một tết, lại lầm lũi đạp đến cơ quan để trực. Trời cũng có mắt, đầu năm 1974, bố tôi trở về, tuy lành lặn, nhưng trong người còn nhiều mảnh đạn. Bố tôi sau thời gian nghỉ dưỡng lại ba lô khoác vai, ra Bắc vào Nam mãi đến những năm 80 của thập kỷ XX mới nghỉ hẳn.

II: Hành trình tìm Chú.

  Ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng nước nhà thống nhất, làng tôi đón những người con thân yêu lần lượt trở về. Có nhiều người đi xa mãi như chú tôi. Một ngày tôi gặp chú thương binh, chân gỗ cót két, chống gậy đeo ba lô tập tễnh trên đường làng. Chú đó là một người con của làng. Chú cháu nhận ra nhau, tôi mừng như gặp lại chú ruột mình vậy. Tối hôm đó tôi ngồi nghe chú kể: Chú là bộ đội đặc công, bị thương trong trận đường 9 Nam Lào(1971). Khi bị thương chú được đưa vào trạm quân y tiền phương và có gặp chú ruột tôi ở đó. Chú tôi bị thương nặng rồi hy sinh và được mai táng ở khu vực quanh mặt trận đường 9. Câu chuyện ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc và tôi đã mang trong tâm khảm mình trong quá trình đi tìm chú.

    Chuyến đi công tác ở các tỉnh miền Trung, tôi đã đến nghĩa trang đường 9 để tìm mộ của chú tôi. Theo lời chú thương binh người cùng làng kể thì trường hợp hi sinh của chú tôi chắc chắn phải có mộ chí. Khi tôi đến nghĩa trang, dọc đường đi tôi ghé vào một quán ven đường mua một ôm hương thơm to tướng. Chị chủ quán đưa cho tôi mấy tờ báo, dặn để làm mồi lửa châm hương. Đến nghĩa trang được các bác quản trang tiếp đón cho xem tất cả danh sách tên các liệt sỹ được an táng tại đây. Xem đi xem lại nhiều lần, tôi không tin vào mắt mình nữa. Không có tên chú tôi trong cuốn sổ ghi tên các liệt sỹ. Tôi thẫn thờ gửi lại số hương đã mua nhờ các bác quản trang thỉnh thoảng thắp hương cho các liệt sỹ, chỉ mang một phần tới lư hương làm bằng đá to đặt trước tấm bia tổ quốc ghi công, đốt hương cắm đầy lên đó. Nhìn những làn khói bay tỏa trên nghĩa trang bạt ngàn bia mộ, mộ có ghi danh, mộ chưa có danh mà ứa nước mắt. Sau lần đó, tôi viết bài tản mạn “Gửi hương cho gió”, đăng trên báo Lao Động. Sau đó tôi tiếp tục  nhờ bạn bè tìm giúp ở các nghĩa trang thuộc các tỉnh Miền Trung. Những lần có tin quy tập các liệt sỹ từ Lào về tôi đều nhờ bạn bè tìm hiểu danh sách, nhưng đều bặt vô âm tín. Việc tìm mộ qua các nhà ngoại cảm tôi đã nhờ cậy nhiều người. Tiếc thay mỗi người nói một phách, người nói mộ chú tôi ở Quảng Bình, người nói ở nghĩa trang Tây Trang(tỉnh Điện Biên)... Tôi cũng đã đi Quảng Bình đến các nghĩa trang tìm nhưng không thấy.

Ảnh gia đình tại nghĩa trang Gio Linh

  Một lần qua giới thiệu của bạn bè, tôi được nhà ngoại cảm vẽ sơ đồ mộ chí của chú tôi thuộc tỉnh Quảng Trị. Theo đó mộ chú tôi ở nghĩa trang thuộc huyện Gio Linh. Nghĩa trang mà chú tôi đang an nghỉ tại đó nằm ở ven đường, đối diện với xác xe tăng bị cháy nằm ở ven đồi, nòng pháo của chiếc xe tăng chúc xuống…những thông tin đầy sức hấp dẫn đã cuốn hút gia đình tôi lên đường. Chuyến đi có bố đẻ, chú thím, vợ chồng tôi, cùng vợ chồng người bạn và nhà ngoại cảm. Vượt qua sông Bến Hải đi chưa đến nửa ngày đường nữa, chúng tôi thấy một nghĩa trang ở ven đường, nhìn sang thấy có chiếc xe tăng đúng như nhà ngoại cảm mô tả. Mừng, cả nhà mừng lắm, theo chân nhà ngoại cảm tới ngôi mộ mà nhà ngoại cảm tả trong sơ đồ, thế rồi thắp hương đặt lễ, đốt vàng mã, thế là đặt trứng …Bố tôi khóc rống lên, lần đầu tiên tôi chứng kiến con người sắt đá đó khóc. Chú út tôi thì nước mắt chảy dài, lặng lẽ lau nước mắt liên tục. Tất cả, không ai cầm được dòng nước mắt tuôn trào. Khóc tơi bời, khóc như chưa bao giờ được khóc. Anh bạn tôi, lấy mũi dao ghi tên của chú tôi sau tấm bia trắng chưa có tên của liệt sỹ nào. Ra về bố tôi gửi tiền mua hương để ngày rằm, ngày lễ tết người quản trang thắp lên nén hương cho mộ chú tôi ấm áp. Bố còn gửi tiền để ông quản trang làm giúp tấm bia mới có khắc những thông tin của chú tôi thay vào tấm bia không có tên ở trên ngôi mộ mà nhà ngoại cảm đã khẳng định đó là mộ của chú tôi.

  Một thời gian sau, tôi nhận được bức thư của người bạn của chú tôi. Ông là người cùng cơ quan, cùng đi bộ đội, cùng đơn vị và là người cùng đồng đội đã an táng chú tôi trên một bản người H’mông thuộc tỉnh Udom Say (thuộc khu vực Bắc Lào). Trong thư ông kể khá chi tiết về trường hợp hy sinh của chú tôi, rồi khẳng định chú tôi chiến đấu và hy sinh tại phía Bắc của nước Lào, không thể đưa thi hài về khu vực Miền Trung được. Nếu được quy tập thì chỉ có thể về nghĩa trang thuộc tỉnh Điện Biên.

  Thế là rõ hơn rồi, không còn ở “mặt trận phía Tây” chung chung được nữa, tôi cũng bừng tỉnh sau một thời gian dài hút theo thông tin ban đầu, tập trung tìm chú tôi ở khu vực Miền Trung.

  Tôi liên hệ với cục chính sách Bộ Quốc Phòng, đưa thông tin của chú tôi tới trạm tiếp khách của cục chính sách ở đường Lý Nam Đế. Một tháng sau quay lại, không có thông tin hồi đáp. Lần thứ hai, vẫn chưa có gì mới. Biết được chú tôi có thể được quy tập về nghĩa trang ở tỉnh Điện Biên, gia đình tôi đã tổ chức một nhóm ba người, gồm chú út của tôi, người em rể tên là Hà Duy Long – Đại tá công tác tại Quân đoàn I, đã nghỉ hưu và tôi đi lên Điện Biên. Ba người chúng tôi lục hết hồ sơ của Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Điện Biên để tìm dấu tích của chú, những thông tin dù là mong manh cũng được ghi lại hết. Hơn một ngày, không tìm được thông tin gì. Trước khi đi, vợ chồng tôi đã đến số 1 Đông Tác(Đống Đa – Hà Nội) nhờ các nhà ngoại cảm giúp tìm mộ. Trung tâm giới thiệu một nhà ngoại cảm có uy tín giúp đỡ. Được thầy tiếp đón, cho số điện thoại dặn lên nghĩa trang Tông Khao(Điện Biên) thì gọi thầy để được hướng dẫn. Chị trưởng phòng người có công Sở LĐTB và XH tỉnh Điện Biên tỏ ra thông cảm với gia đình tôi, cũng giới thiệu một chị có khả năng ngoại cảm và là người địa phương giỏi tìm mộ. Chúng tôi bàn bạc nhất trí nhờ hai người cùng thực hiện việc tìm kiếm để kiểm chứng. Nếu hai nhà ngoại cảm chỉ cùng một mộ thì ngôi mộ đó có khả năng là nơi chú của tôi đang an nghỉ. Chúng tôi chỉ còn làm một động tác cuối cùng là xin Sở LĐTB&XH cho lấy mẫu để xét nghiệm AND là có thể kết luận chính xác. Chúng tôi tổ chức buổi tìm mộ của hai nhà ngoại cảm lệch thời gian với nhau. Một người buổi sáng, một người buổi chiều. Suốt một ngày làm các thủ tục lễ nghi và tìm mộ theo sự hướng dẫn của hai nhà ngoại cảm, chúng tôi đã tìm được hai ngôi mộ khác nhau, nhưng lại rất gần nhau. Buổi tìm kiếm chỉ kết thúc khi màn đêm buông xuống. Giữa hàng ngàn ngôi mộ, hai nhà ngoại cảm chỉ cho chúng tôi hai ngôi mộ tuy khác nhau nhưng gần kề nhau thế cũng là quý lắm rồi. Chúng tôi ghi vị trí tọa độ của cả hai ngôi mộ, rồi ra về trong màn đêm đen kịt của núi rừng Tây Bắc. Đêm đó, ba chú cháu tôi im lặng, chẳng ai nói với ai lời nào.

  Cuộc đi tìm mộ chú tôi ở Điện Biên, tuy chưa có kết quả, nhưng cũng hé mở một số thông tin mới. Các anh chị ở phòng người có công, Sở LĐTB và XH tỉnh Điện Biên cho biết có một đơn vị chuyên làm nhiệm vụ quy tập mộ liệt sỹ ở bên Lào của quân khu II và cho số điện thoại của các đồng chí đang làm nhiệm vụ ở bên đó. Chúng tôi đã gọi điện thoại hỏi thăm tình hình. Vừa nghe thông tin tôi hỏi, anh Huy – đội trưởng đội quy tập mộ liệt sỹ của quân khu II tại tỉnh Udom Say xác nhận ngay trường hợp hy sinh của chú tôi(hy sinh tại trận đánh đồi 1220, Fu Nam Vang, Mường 40, Udom Say), thi hài đã được quy tập tại bản Fu Niêng, Mường 40 về nghĩa trang Mường Sài. Ngôi mộ của chú tôi là ngôi mộ số 1. Tháng 1/1975, các ngôi mộ liệt sỹ ở nghĩa trang Mường Sài được chuyển về nghĩa trang Tông Khao( tỉnh Điện Biên). Trong đợt di chuyển này, xe chở hồ sơ gặp lũ, nên toàn bộ hồ sơ đã bị nước cuốn trôi. Mặc dù đã về nghĩa trang Tông Khao nhưng lại trở thành những ngôi mộ không có tên…

  Ba chú cháu tôi nghỉ ngơi mấy ngày rồi lên Việt Trì, tìm tới nơi đóng bản doanh của quân khu II. Mặc dù những người bạn của người em rể đón tiếp ba chú cháu rất chu đáo (vì họ cùng học tại Học viện Kỹ thuật quân sự trước đây) nhưng cũng không làm vơi đi được nỗi buồn của chúng tôi. Vì các thông tin mà các đơn vị có trách nhiệm của quân khu II cung cấp cũng không hơn gì các thông tin mà Đại tá Nguyễn Văn Huy – Đội trưởng đội quy tập hài cốt liệt sỹ thuộc cục chính trị Quân khu II đã cung cấp.

  Cũng xin nói thêm, chuyến đi lên Điện Biên, tôi được biết có Hội hỗ trợ gia đình liệt sỹ Việt Nam, tổ chức này cũng đã có nhiều hoạt động giúp đỡ các gia đình liệt sỹ tìm lại thân nhân. Thế là tôi xin nhập hội để có thêm cơ hội mới tìm chú của tôi thông qua hoạt động của hội này.

  Có lẽ vẫn phải hy vọng và chờ đợi!

Đỗ Phú

 

 

 

Chia sẻ:

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác