Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Tìm kiếm, quy tập

Trở lại A Dơi

Cập nhật lúc 07:08 24/01/2020

(ĐTTA) - Kết thúc chiến dịch Mậu Thân, tháng 8 năm 1968 chúng tôi được rút ra Nghệ An củng cố, sau mấy tháng đươc bổ sung quân số, huấn luyện và điều dưỡng, đơn vị chúng tôi lại chuẩn bị đi chiến trường, nhưng do tình hình lúc đó, mặt trận không tổ chức chiến dịch Đông Xuân, nên mãi đến tháng 4 năm 1969 chúng tôi mới được lệnh lên đường vào chiến trường. Địa bàn hoạt động đợt này từ Cam Lộ Hướng Hóa sang Sê Pôn (Lào). Nhiệm vụ là nghi binh, chỉ khi nào có thời cơ thuận lợi, chắc thắng mới đánh, cơ động liên tục, làm cho địch không phán đoán được lực lượng của ta, nhưng vẫn phải cho chúng biết ta có bộ đội tác chiến trên chiến trường. Tuy không có các trận đánh lớn nhưng chúng tôi thường xuyên đánh nhau với Mỹ tại A Dơi Nước, A Dơi Cạn, Cao điểm đồi không tên, KaKy, Thượng Vạn…

Tác giả Bùi Minh Thuyên – Đội mũ bộ đội gắn sao. 

Chúng tôi cơ động tác chiến liên tục khắp vùng rừng núi Tây Bắc Quảng Trị, trong điều kiện vô cùng khó khăn, mỗi người phải mang đủ cơ số vũ khí, lương thực thực phẩm cho 7 ngày, khi hết lại vượt sông Sê Pôn, Sê Băng Hiêng về bên Lào lấy. Nhiều khi do mưa lũ hoặc ở xa nên hết lương thực, bộ đội phải nhịn đói, hoặc ăn rau rừng 1- 2 ngày, cũng có nhiều lần còn gạo nhưng do cơ động bám địch liên tục nên không kịp nấu ăn từ chiều hôm trước đến chiều hôm sau mới có điều kiện nấu ăn. Đói gạo, đói muối lại hoạt động dưới bom đạn, pháo địch dầy đặc nhưng anh em ai cũng hào hứng, muốn được đánh các trận lớn lập công.

Mấy ngày cuối tháng 6/1969 địch tập trung bom, pháo đánh tan nát trên đồi Đá Bàn và các khu vực xung quanh, tín hiệu cho một cuộc đổ quân lớn xuống cao điểm. Đơn vị chúng tôi được lệnh trinh sát xây dựng phương án đón lõng, nếu Mỹ đổ quân xuống Đá Bàn thì bất ngờ đánh úp để chúng không kịp trở tay. Bộ phận trinh sát của đơn vị gồm anh Nguyễn Khắc An đại đội trưởng, các trung đội trưởng và 3 anh em trinh sát chúng tôi ngay từ chiều 29/6 đã tiếp cận khu vực Đá Bàn, đẫn đường cho chúng tôi là Hồ Sáu xã đội trưởng và Hồ Sen đội viên du kích xã A Dơi (Hồ Sen lúc đó khoảng 15 tuổi) lợi dụng các hợp thủy chúng tôi leo lên Đá Bàn, ban đêm địch không đánh bom trên cao điểm nữa dưới ánh trăng mờ chúng tôi khảo sát toàn bộ trận địa, dự đoán đội hình địch khi đổ bộ xuống, phác họa sơ đồ, dự tính các mũi tiền nhập tấn công ở phía đơn vị được giao còn các mũi khác do đơn vị khác đảm nhận. Xong việc chúng tôi rút xuống chân đồi thì trời vừa sáng.

Trên đường về vị trí tập kết, Hồ Sáu rẽ qua đám rẫy nơi do anh đặt bẫy thú, thu hoạch được 1 con chuột có lẽ mắc bẫy chết 1- 2 ngày rồi, bụng trương phình, mùi thum thủm. Hồ Sáu dẫn chúng tôi men khe suối về nhà, gọi là nhà nhưng thực tế chỉ là một chiếc lán sơ tán khoảng 15m2 giữa rừng, bước lên sàn tôi thấy 2 người phụ nữ đang cho một đứa trẻ khoảng 6 tháng tuổi ăn, thức ăn là bắp non nấu lẫn khoai lang với ớt chỉ thiên được đánh nhuyễn, họ bảo.. “Đồng bào không có gạo, không có muối phải cho nó ăn ớt thay muối..” Hồ Sáu giới thiệu: Xio là vợ, RuOm là em dâu mới đẻ được 3 tháng thì chồng bị pháo Mỹ bắn chết, bây giờ nó ở lại với tôi thôi. Từ trưa hôm trước đến giờ không được ăn uống gì lại cơ động liên tục, bây giờ chúng tôi mới thấy mệt đói rã rời, theo lệnh của đại đội trưởng, chúng tôi chia nhau tranh thủ nấu cơm, còn gạo muối nhưng thực phẩm đã hết sạch, anh em kiếm được nắm rau bầu đất bỏ vào nấu, gia đình Hồ Sáu tiếp chúng tôi bằng món thịt chuột rang, Bụng đói ngửi mùi cơm mọi người vô cùng hào hứng nhưng quyện vào mùi thịt chuột thối thì tôi không tài nào nuốt được, mấy lần Hồ Sáu xúc cho tôi miếng thịt chuột tôi đều bỏ ra, nhưng sau cái lừ mắt của đại đội trưởng, tôi đành nhận 1 miếng thịt chuột kẹp với 1 quả ớt cho vào mồm nhai dập dặp rồi nuốt vội. Bữa cơm nhanh chóng kết thúc, chúng tôi trở lại đơn vị cho bộ đội chuẩn bị chiến đấu, trên đường đi anh An quát tôi “…Nếu không có du kích dẫn đường hôm nay liệu ta có hoàn thành nhiệm vụ không ?, ngày mai họ không giúp nữa liệu ta có đánh thắng không…” Đây là bài học xương máu về chính sách dân vận, nhất là đối với đồng bào dân tộc mà mãi đến sau này khi trở thành cán bộ lãnh đạo một đơn vị tôi luôn nhắc nhở mình:…Sự nghiệp cách mạng là do quần chúng, thành công hay thất bại là do dân phải tôn trọng và hòa mình với dân, phải làm tốt công tác dân vận mới thành công.

Đúng như dự đoán ngày hôm sau 01 tháng 7 khoảng 10 giờ chúng bắt đầu đổ quân, từng đoàn trực thăng vừa iểm trợ vừa chuyên trở thiết bị vũ khí đổ bộ xuống Đá Bàn. Dây thép gai được thả xuống trước tiên thành hàng rào bùng nhùng xung quanh cao điểm, trên đỉnh lại dải nhiều hàng đan xen nhau phân chia khu vực thành nhiều tầng, nhiều chiếc lô cốt bê tông được trực thăng cẩu ra đặt vào những vị trí chúng định sẵn bằng các hố bom, máy ủi để san lấp, cuối cùng là các chuyến chở lính của C13. Nằm ở đồi bên cạnh, chúng tôi theo dõi chúng tường tận từng chi tiết. Đài mặt trận thông báo chúng đổ bộ xuống một tiểu đoàn Mỹ. Các mũi được lệnh tiếp cận mục tiêu để tiêu diệt căn cứ này ngay trong đêm 01/7 để chúng không kịp củng cố trận địa. Đêm xuống, trời chuyển mưa tầm tã, chúng tôi mò mẫn trong đêm mưa trơn hàng loạt pháo kích từ các cứ điểm bắn xối xả, ở đâu đó đã có chiến sỹ của ta bị thương vong, tuy nhiên 24 giờ mũi chúng tôi đã tiếp cận hàng rào ngoài cùng của địch và sẵn sàng tấn công khi có lệnh, nhưng đợi mãi, giờ G đã qua và chúng tôi nhận được lệnh rút lúc 2 giờ cùng ngày 02/7, sau này được thông báo các mũi của đơn vị bạn đi lạc và bị lộ nên không tiếp tục đánh được, các đơn vị của Tiểu đoàn 6 rút theo hướng Co Ác, Tiểu đoàn 5 rút theo hướng A Dơi tất cả đều về bên kia sông Sê Pôn đợi lệnh. Khi bộ phận thu dung của Tiểu đoàn 5 về đến Đồi Cù Nhuôi thì bị pháo kích của địch, 6 đồng chí hy sinh 3 ngày sau đơn vị quay lại chôn cất liệt sỹ tai chỗ.

50 năm sau kể từ tháng 7/1969, tháng 9 năm 2019 tôi trở lại A Dơi tìm kiếm phần mộ của 6 liệt sỹ hy sinh hồi đó. Vợ chồng Hồ Sáu, RuOn, Xio và con đều đã chết vì bom Mỹ, hỏi thăm mãi mới gặp được Pạ Quang, chính là Hồ Sen cậu thiếu niên ngày nào dẫn đường cho chúng tôi đi trinh sát căn cứ Đá Bàn bây giờ đã 65 tuổi, ông kể: Đi làm du kích từ năm 14 tuổi sau lần gặp chúng tôi ông được nhận về một đơn vị chủ lực của Quân giải phóng Quảng Trị, tham gia đánh các chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971, chiến dịch mùa hè đỏ lửa năm 1972. Giải phóng Trị Thiên năm 1975, nhiều lần bị thương sau giải phóng ông về công tác ở Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã rồi liên tục 15 năm làm chủ tịch cựu chiến binh xã đến năm 2016 thì được nghỉ.

Thời gian chiến đấu bên nhau chỉ có mấy ngày nhưng 50 năm sau gặp lại, những ký ức của một thời lửa đạn trên quê hương Vân Kiều như sống lại trong mỗi chúng tôi, nằm ôm nhau nhưng không ai muốn ngủ, kể cho nhau nghe chuyện chiến đấu, chuyện quê hương và cả những khó khăn trong cuộc sống những ngày sau giải phóng và tất nhiên không quên chuyện miếng thịt chuột thối ngày nào.

Có điều thật trùng hợp năm đó Hồ Sen cậu thiếu niên 15 tuổi cùng dẫn đường cho chúng tôi đi đánh địch, 50 năm sau ông lại dẫn đường cho chúng tôi đi tìm hài cốt đồng đội hy sinh ngày hôm đó. 65 tuổi nhưng ông còn khỏe mạnh, nhanh nhẹn vẫn xé rừng leo núi, vẫn đào bới cùng chúng tôi tìm kiếm. Rất tiếc rằng thời gian quá lâu, địa hình thay đổi chúng tôi đã 3 lần vào tìm kiếm nhưng vẫn chưa tìm được các anh.

Tạm biệt quê hương Vân Kiều nghĩa tình sâu nặng

Tôi sẽ còn trở lại

--------------------------------------------------

Sa Doan, ngày 10 tháng 9 năm 2019    

BÙI MINH THUYÊN                  

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác