Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Trang vàng liệt sĩ

Anh hùng Trần Trọng Can và chiếc vỏ đạn 12 ly 7 đặc biệt

Cập nhật lúc 15:38 02/11/2016

Chân dung Anh hùng Trần Trọng Can

Từ năm 1965, khi mà quân xâm lược Mỹ ồ ạt đổ bộ vào miền Nam, tuy mới chỉ chưa tròn 16 tuổi nhưng người thanh niên Trần Trọng Can của quê hương nhà văn Nam Cao nổi tiếng với “Làng Vũ Đại ngày ấy” đã ấp ủ hoài bão: Phải là người lính có mặt ở chiến trường, phải được cầm súng đánh Mỹ.

Đang học lớp 8 trường cấp III Hoàng Văn Thụ, thành phố Nam Định, Trần Trọng Can liên tục lên xã xin đi bộ đội, nhưng vì còn thiếu tuổi mà thể trạng lại nhỏ bé nên hy vọng ấy không được xã chấp nhận. Rồi Trần Trọng Can xin làm công nhân ở mỏ than Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên, hy vọng có nhiều điều kiện hơn để vào bộ đội, sớm được cầm súng đánh Mỹ.

Công việc hằng ngày của người công nhân khai thác than là khá vất vả nhưng Trần Trọng Can và hàng trăm anh em công nhân khác vẫn canh cánh trong lòng ước nguyện: Phải sớm được đi bộ đội, phải sớm có mặt ở miền Nam thân yêu.

Sau rất nhiều lần tình nguyện nhập ngũ và có rất nhiều người trong họ đã lấy máu mình để viết đơn được ra trận, và rồi ngày 10 tháng 10 năm 1967, Giám đốc mỏ than Khánh Hòa - ông Hà Văn Dư đã ra Quyết định số 680 đồng ý để 50 công nhân của mình được đi bộ đội, trong đó có Trần Trọng Can mang số thứ tự 26.

Và rồi người công nhân “được đi bộ đội” mang số thứ tự 26 này với khẩu súng máy 12 ly 7 bằng những viên đạn đặc biệt cùng với tinh thần chiến đấu vô cùng ngoan cường, dũng cảm đã làm nên trận chiến nổi tiếng: Bắn rơi 2 máy bay Mỹ (trong đó có một chiếc C-130) ở lèn đá T4 sáng ngày 5 tháng 3 năm 1969 cùng với chiếc vỏ đạn 12 ly 7 đặc biệt đã đi vào huyền thoại.

Ngày mồng 1 tháng 4 năm 1969, tôi nhận quyết định lên làm Trợ lý quân lực Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 246. Mấy ngày liên tục làm công tác nhận bàn giao vừa xong thì đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiệp và Chính trị viên tiểu đoàn Triệu Quang Thân gọi lên giao nhiệm vụ cùng với Khẩu đội trưởng Khẩu đội 9 súng máy 12 ly 7 và trinh sát viên tiểu đoàn Lê Xuân Khoát đưa đồng chí cán bộ bảo đảng của mặt trận vào lại lèn đá T4 để tìm kiếm chiếc vỏ đạn 12 ly 7 trong trận đánh máy bay Mỹ rải chất độc hóa học ngày 5 tháng 3 năm 1969. Câu chuyện về trận chiến đấu đánh máy bay Mỹ hôm đó rất nổi tiếng ở Mặt trận B5.

Ngày 4 tháng 3 năm 1969, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 mặt diện cho tất cả đơn vị đang hoạt động ở địa bàn hai huyện Hướng Hóa và Cam Lộ biết, sáng 5 tháng 3 máy bay sẽ đi rải chất độc ở khu vực này, lệnh cho các đơn vị tổ chức phục kích đón lỏng máy bay địch. Thời kỳ này các sư đoàn chủ lực đều rút ra củng cố, cả mặt trận còn duy nhất Tiểu đoàn 3 của chúng tôi là đang còn triển khai chiến đấuở khu vực này để giữ thế chiến trường. Ban chỉ huy tiểu đoàn cùng đại đội 12 nhận định: “Nếu tổ chức trận địa tốt, bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ thì khả năng bắn rơi máy bay Mỹ là rất cao. Vì bọn địch rất chủ quan nghĩ là không có lực lượng ta ở đó nên chúng bay rất thấp. Nhưng nếu trận đánh diễn ra thì diễn biến của nó là hết sức ác liệt. Cho nên phải có trận địa phụ để cơ động”. Và nhiệm vụ này được giao cho Khẩu đội 9 súng máy 12 ly 7 của Đại đội 12 do đồng chí Triệu Văn Chính người Cao Bằng làm Khẩu đội  trưởng. Đồng chí Trần Trọng Can – xạ thủ số 1 (quê xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) và đồng chí Dụng – xạ thủ số 2 (quê Vĩnh Phúc). Đêm 4 tháng 3 năm 1969, Khẩu đội 9 khẩn trương chuyển súng đạn lên đỉnh cao núi đá dưới chân 1008. Cũng phải mất hơn 3 tiếng, Khẩu đội 9 mới lên tới đỉnh lèn đá T4. Khẩu đội chọn khu vực có đất và quang đãng (vì lèn đá T4 hầu như toàn đá). Ba anh em khẩn trương đào công sự cho trận địa chính, sau đó đào tiếp cho trận địa dự bị cách đó khoảng 20m. Sau khi ngụy trang cho trận địa cẩn thận, Khẩu đội trưởng Chính cho anh em lắp và căn chỉnh súng, rồi quay xuống đại đội để lấy thêm nước uống và đạn. Còn xạ thủ số 2 thì đi chặt thêm lá ngụy trang. Trần Trọng Can lau qua súng một lần nữa rồi cẩn thận kiểm tra lại chất lượng số đạn mang theo vì thời gian gần đây đạn 12 ly 7 lấy về thường hay có hiện tượng nổ chậm (tức là đạn đã lên nòng, súng đã bóp cò, khóa nòng đã đập nhưng lại có những viên đạn hàng giây sau mới nổ). Đây là một điều nguy hiểm, hoặc có những viên đạn không nổ (đạn câm) nếu gặp phải trường hợp như vậy là mất thời cơ khi máy bay địch bổ nhào xuống ném bom. Đúng lúc trận địa chỉ còn một mình xạ thủ Trần Trọng Can, thì từ hướng Tây Nam có tiếng máy bay lạ. Trần Trọng Can ngước lên thì thấy cách trận địa chừng 500m, ở độ cao khoảng 200m, có chiếc C-130 khổng lồ bay theo đội hình hàng ngang nhưng so le bậc thang, chiếc đi trước thấp hơn chiếc đi sau. Từ hai sải cánh là những luồng khói trắng phun ra, bọn chúng đang đi rải chất độc hóa học, đúng như mật điện của mặt trận đã thông báo và thẳng hướng bay vào trận địa. Phía trên cao là một tốp ba chiếc F-4H bay hộ tống.

Trần Trọng Can hét to gọi đồng chí Dụng và lao ngay tới khẩu 12 ly 7. Chỉ trong giây lát, hai chiếc C-130 đi đầu ào qua trận địa nhưng lại thấp hơn phía dưới tầm súng (tầm âm) nên không thể bắn được. Còn lại chiếc thứ ba đi sau cùng bay cao hơn độ cao hai chiếc đi đầu và lao chính diện vào trận địa. Ở cự ly chừng 200m, với độ cao khoảng 100m, nó cồng kềnh nặng nền, chậm chạp phơi cái bụng trắng toát dưới mũi súng. Đồng chí Dụng chưa về kịp, Trần Trọng Can một mình thao tác  với khẩu 12 ly 7 đưa tầm ngắm vào mục tiêu, kéo cò. Chỉ một tiếng nổ vang phát ra từ khẩu 12 ly 7, một chớp lửa bùng lên từ thân máy bay, khẩu 12 ly 7 im bặt (đạn câm nên chỉ nổ một viên).

Trần Trọng Can ngước nhìn lên chiếc C-130 rực lửa ào qua đầu mình và nằm vật xuống đất không biết trời đất là gì nữa. Mệt mỏi hồi hộp chỉ là phần nhỏ, còn điều lớn hơn lúc này đối với Trần Trọng Can là sự tiếc nuối, giá như trận địa đặt ở vị trí thấp hơn một chút, giá như đạn không hỏng thì loạt bắn sẽ dài hơn, chắc chắn những chiếc C-130 khổng lồ kia sẽ bị bắn rơi ngay. Trần Trọng Can nằm đó, mặc cho lớp trắng đục của chất độc hóa học từ máy bay thả xuống phủ lên khắp người. Cho đến khi khi đồng chí Dụng chạy về gọi giật vào tai: “Tao tưởng mày chết rồi” thì Trần Trọng Can mới bừng tỉnh. Sau khi chiếc C-130 bị bắn chừng vài phút là chiếc F-41 của hải quân Mỹ quây lấy trận địa. Chúng phóng rốc-két, ném bom cháy, bom bi, bom phá xuống trận địa. Trời đất mịt mù, những quả bom rơi xuống đỉnh núi đá bên cạnh làm cho những tảng đá lớn rơi xuống ầm ầm. Bom bi nổ bôm bốp. Lau sậy, cỏ tranh cháy ngùn ngụt. Trận địa đã bị lộ, khẩu đội trưởng cũng vừa mang nước và đạn ra. Anh em quyết định chuyển trận địa đến trận địa dự bị. Cả khẩu đội quyết tâm sống má với kẻ thù. Hết đợt này lại có đợt khác, máy bay địch thay nhau đánh phá. Rất nhiều quả bom đã rơi cách trận địa không xa. Do liên tục phải đối mặt với các loại máy bay địch, Trần Trọng Can và anh em rút ra một bài học: “Khi máy bay ném bom vào trận địa, quả nào lao xuống mà nhìn thấy đuôi bom hất lên cao, là bom sẽ rơi xuống phía dưới trận địa. Quả nào mà nhìn thấy đuôi bom thấp xuống là bom rơi phía sau. Quả nào không nhìn thấy được, chỉ thấy một chấm tròn xoay là nó rơi gần”. Khẩu đội 9 dùng súng nhằm bắn thẳng vào những chiếc đang bổ nhào cắt bom, khiến những chiếc máy bay này không dám hạ thấp độ cao lái chỉnh bom đánh vào trận địa. Đánh phá mãi vẫn thấy hỏa lực của ta bắn lên, chúng thay đổi chiến thuật bằng hai cách: Hai tốp thay nhau bổ nhào chéo cánh từ hai hướng làm ta xoay sở không kịp. Mật độ bom càng lúc càng rơi xuống trận địa quá dày. Súng của khẩu đội đã bắn đến mức nòng súng nóng bỏng, phải thay nòng khác. Khoảng 11 giờ 30 phút thì khẩu đội bắn trúng một chiếc F-14 khi chiếc này đang bổ nhào từ hướng đông vào trận địa. Nó bị trúng đạn ở độ cao chừng 300m, biến thành một bó đuốc lớn lao xuống chân điểm cao 300 đá. Sung sướng đến tột cùng, cả Khẩu đội 9 ôm lấy nhau mà cười mà khóc rồi quyết định rời khỏi trận địa.

Mấy ngày sau, địch vẫn điên cuồng đánh rộng ra xung quanh lèn đá T4. Bom rơi cả vào vị trí của Ban chỉ huy tiểu đoàn, và cả con đường suối dưới chân đồi mà bộ đội ta thường cơ động lên đánh địch ở T4 và 1008. Một tổn thất lớn đã đến với đại đội 12, ngày 7 tháng 3 năm 1969, Khẩu đội 8 bố trí lại trận địa trên đồi T4 bị ĐKZ (loại đạn khoan) của địch từ điểm cao 1008 bắn trúng làm hy sinh đồng chí trung đội trưởng trung đội súng máy 12 ly 7, đồng chí Thiết – khẩu đội trưởng quê Thái Bình, xạ thủ số 1Hùng quê Bắc Thái và chiến sĩ Thân quê Vĩnh Phúc. Thật đau thương vì tất cả anh em hy sinh đều không xác định được thân thể.

Sẩm tối ngày 8 tháng 3 năm 1969, đồng chí Huỳnh Hoài – Chính trị viên Đại đội 12 cho gọi Trần Trọng Can đến một mỏ đá gần sở chỉ huy dã chiến của tiểu đoàn. Lúc này ở hang có mặt đồng chí Nguyễn Văn Hòa – tổ trưởng tổ Đảng 3, đồng chí Triệu Quang Chính – Khẩu đội trưởng Khẩu đội 9, cùng một vài đồng chí Đảng vên khác của đại đội. Đồng chí Huỳnh Hoài nghiêm trang công bố: Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 thông báo: “Theo đài kỹ thuật thì trận đánh ngày 5 tháng 3 năm 1969 ở lèn đá T4. Khẩu đội 9 đã bắn rơi hai máy bay địch, đặc biệt trong đó có một chiếc C-130 đang đi rải chất độc hóa học. Thành tích này là chiến công chung của đơn vị, nhưng người được ghi công đầu là xạ thủ số 1 Trần Trọng Can. Chỉ với một viên đạn 12 ly 7, đồng chí Trần Trọng Can đã mưu trí, dũng cảm, không sợ hy sinh, chấp nhận nghiêm mật lệnh của điện của Bộ Tư lệnh Mặt trận, đã bắn rơi chiếc C-130. Từ chiến công đặc biệt xuất sắc này, Đảng ủy cấp trên cho phép Chi bộ 12 tuyên bố kết nạp đồng chí Trần Trọng Can vào Đảng Lao động Việt Nam ngay tại trận địa” (trận đánh này đồng chí Trần Trọng Can được trao tặng giải thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba và hai bằng dũng sĩ diệt máy bay).

Lại nói về câu chuyện ngày ấy, tôi cùng anh em đưa đồng chí cán bộ cán bộ bảo tàng mất hơn một ngày mới tới được lèn đá T4. Tối mùng 4 tháng 4 năm 1969, chúng tôi ngủ lại trong hang. Sáng hôm sau, cơm nước xong, đồng chí Khẩu đội trưởng Khẩu đội 9 bí mật đưa cả đoàn lên trận địa. Cũng phải gần hai tiếng sau chúng tôi mới tới nơi. Có tận mắt thấy cái tan hoang, hố bom pháo chồng chất do quân địch đánh phá vào hai trận địa của Khẩu đội 9 trên đỉnh đồi lèn đá T4, chúng tôi mới thấy hết được cái khốc liệt của trận đánh ngày 5 tháng 3.

Đến trận địa 1, nơi đồng chí Can nổ súng bắn rơi chiếc C-130, tất cả anh em chúng tôi dưới sự hướng dẫn của đồng chí Khẩu đội trưởng Khẩu đội 9, cẩn thận bới từng gốc cây hòn đá để tìm cái vỏ đạn 12 ly 7. Và cũng thật may, trinh sát viên tiểu đoàn Lê Xuân Khoát tìm được nó ở ngay một kẽ đá. Đồng chí cán bộ bảo tàng mặt trận cười rạng rỡ mãn nguyện, cầm trên tay chiếc vỏ đạn mới nói với chúng tôi: Đây là một chiếc vỏ đạn đặc biệt”.

Nguyễn Văn Hợi

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác