Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Trang vàng liệt sĩ

GIỌT SỮA CUỐI CÙNG...

Cập nhật lúc 13:23 21/10/2017

Biết chúng sắp giết mình, từ trong cõi mê man chị Tư chợt tỉnh lại, lần đầu tiên người ta nghe chị van xin bọn lính cho chị được cho con bú lần cuối. Chị Tư đứng dậy vững chãi, vạch bầu vú cho con bú và bình tĩnh nói :"Đợi tao cho con tao bú rồi chúng mày muốn bắn muốn giết thì tùy".

Như nhiều vùng quê miền Nam anh hùng khác, xã Vĩnh Hưng của Bạc Liêu trong kháng chiến chống Mỹ là vùng đệm giữa căn cứ Vĩnh Trinh của ta và tiểu khu Bạc Liêu của địch.

Vĩnh Hưng dù chỉ là một xã nhưng được địch coi là một vùng quan trọng bậc nhất bởi đây là vùng áp sát tiểu khu Bạc Liêu, điểm xuất phát các trận đánh có thể làm mất an ninh vùng ven đô thị Bạc Liêu; đồng thời Vĩnh Hưng còn là chiếc nôi cách mạng từ kháng chiến chống Pháp cho đến đánh Mỹ. Chỉ là xã thôi mà Vĩnh Hưng có cụm pháo với hai khẩu 105mm, một tiểu đoàn bảo an. Ngoài ra, tiểu đoàn 411 cũng được điều động phụ trách vùng này. Chưa kể nghĩa quân, dân vệ, tề điệp... được bố trí đều khắp các ấp.

Chị Tư bấy giờ là vợ của xã đội trưởng Năm Dỏng – một cán bộ diệt ác ôn nổi tiếng của vùng. Anh Năm Dỏng vào cứ chiến đấu, chị Tư ở nhà thay anh chăm sóc gia đình, nuôi em, nuôi con và mở quán lập đường dây tiếp tế thuốc men, lương thực, bảo vệ cán bộ di chuyển từ cứ ra vùng địch tạm chiếm. Cuối năm 1971, chị Tư sinh bé út đặt tên Lê Mỹ Linh.

Lực lượng như thế cùng với tàu chiến, máy bay địch đã chà đi, xát lại, làm tan hoang, xơ xác những cụm rừng lồi lõm da beo ở Vĩnh Hưng. Vậy mà căn cứ Mỹ Trinh - nơi đảng bộ và lực lượng vũ trang của xã (có lúc có cả lực lượng huyện Hồng Dân của tỉnh Bạc Liêu về trú đóng) vẫn bám trụ chiến đấu. Ông Năm Dỏng, xã đội trưởng, chồng của chị Nguyễn Thị Tư , giống như một “hung thần” làm sa sút tinh thần chiến đấu của địch. Hễ ông Năm Dỏng viết thư cảnh cáo tên tề điệp, ác ôn nào thì chắc chắn kẻ ấy cũng phải đền nợ máu. Ông còn chỉ huy nhiều trận đánh xuất thần mà địch không bao giờ ngờ được.

Sau khi tìm mọi cách để giết ông Năm Dỏng nhưng không thành, cuối cùng địch bày mưu bắt chị Nguyễn Thị Tư để buộc chị khai ra những căn hầm bí mật ở khu căn cứ Mỹ Trinh. Theo lời cô Tám Bò, bạn từ thời con gái cũng là người chứng kiến cái chết của chị Nguyễn Thị Tư, chị Tư sinh năm 1937 trong một gia đình nghèo, đông con. Sáng chị chèo xuồng ra chợ bán mớ rau, con cá để giúp mẹ nuôi em, trưa về lại ra đồng cấy lúa đến tối mịt.

Đình chiến chưa được bao lâu thì Mỹ nhảy vào, chiến tranh lan rộng; anh Năm Dỏng vào cứ Mỹ Trinh chiến đấu, để lại chị Tư đầu tắt mặt tối nuôi con thay chồng. Ngoài nỗi lo an nguy cho anh Năm, chị còn thắc thỏm lo cho ba đứa em ruột cũng ở Mỹ Trinh. Chị mở thêm một cái quán cóc để có lý do đi ra chợ Vĩnh Hưng mua hàng tiếp tế cho anh em trong cứ. Mỗi đợt pháo chụp xuống Mỹ Trinh là hai tiếng đồng hồ sau người ta đã thấy chị tất tả chạy vào cứ xem ai còn ai mất. Trong hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy mà chị Tư vẫn trụ được, vẫn gánh vác việc nuôi con thay chồng và vẫn tiếp sức cho cách mạng.

Xã ủy Vĩnh Hưng nhận được tin mật báo về ý đồ của bọn chỉ huy tiểu khu Bạc Liêu, cùng lúc đó lại nhận được tin ở xã Minh Diệu bọn chúng đã giết chết vợ của đồng chí Hai Hoàng, thường vụ huyện ủy Vĩnh Lợi, nên chỉ đạo cho chị Tư phải bỏ trốn khỏi xã. Chị Tư gửi ba đứa con lớn cho bà ngoại giữ, còn mình thì ẵm đứa con gái út mới hơn 10 tháng tuổi đi khỏi ấp Trung Hưng I, tá túc nhà bà Hai Đẩu để sáng xuống đò đi ra Láng Tròn lánh nạn.

Khoảng 6g chiều ngày 14-7-1972, một đại đội bảo an nhận lệnh đi bắt vợ xã đội trưởng Năm Dỏng ập đến sau khi đã lùng sục khắp ấp Trung Hưng I. Không thể thuyết phục được chị Tư chỉ hầm ông Năm Dỏng và du kích Mỹ Trinh, đám lính bảo an đánh đập chị tơi tả. Những người chứng kiến hôm đó còn nghe rõ trong bộ đàm lệnh của đại úy Phước, tiểu đoàn trưởng bảo an: “Giết nó, cắt lỗ tai đem về cho tao” sau khi tên chỉ huy ra điện về tiểu khu xin ý kiến.

Bìa tạp chí của Anh The Telegrah. Ảnh Larry Burrows

Biết chúng sắp giết mình, từ trong cõi mê man chị Tư chợt tỉnh lại, lần đầu tiên người ta nghe chị van xin bọn lính cho chị được cho con bú lần cuối. Chị Tư đứng dậy vững chãi, vạch bầu vú cho con bú và bình tĩnh nói :"Đợi tao cho con tao bú rồi chúng mày muốn bắn muốn giết thì tùy".

Không lâu sau đó, đám lính giành lấy đứa bé và lôi chị đi cách đó khoảng 100m, bắn chị chết và cắt một vành tai của chị đem về chi khu trong tiếng khóc thét hãi hùng của đứa bé đang trong vòng tay mẹ.

Ngày 17/4/1972, khi chị Tư hy sinh, bé Lê Mỹ Linh khi ấy mới chỉ hơn 10 tháng tuổi đã bị địch giằng khỏi vòng tay và bầu sữa mẹ...

Bài vọng cổ “Giọt sữa cuối cùng” của nghệ sĩ, soạn giả Trọng Nguyễn - bài ca ấy là câu chuyện có thật được kể bằng âm nhạc

*******

Mảnh đất Việt Nam thân yêu của chúng ta đã trải qua bao nhiêu lần chinh chiến thì nỗi đau khổ vì mất mát người thân của những phụ nữ Việt Nam càng nhân lên bấy nhiêu lần. Trong thời chiến, có thể nói phải gánh chịu nhiều nghiệt ngã, truân chuyên, và đau thương nhất chính là những người phụ nữ.Trong chiến tranh, rất nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam đã không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh; hơn thế, cống hiến không chỉ cuộc đời mình mà cả con em ruột thịt cho độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc và họ còn đánh đổi cả thiên chức cao quý nhất của chính mình đó là quyền làm mẹ, cũng chính chiến tranh đã khiến họ phải gánh chịu nỗi đau mẫu tử phải chia lìa...

Qua câu chuyện của chị Tư cũng như những nữ anh hùng khác trong suốt suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta, chúng ta có thể thấy được rằng những người phụ nữ Việt Nam ở mọi thời đại luôn giỏi việc nước, đảm việc nhà, thật xứng đáng với tám chữ vàng: "Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang." Các mẹ, các chị đã luôn đấu tranh cho mục tiêu thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc.

Nhân dân ta đời đời biết ơn những bà mẹ Việt Nam chẳng những sinh ra và cống hiến cho Tổ quốc những người con ưu tú đã và đang chiến đấu anh dũng, bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại mà tự mình đã cống hiến cho Tổ quốc tài năng, trí tuệ và lòng dũng cảm tuyệt vời để đánh đuổi bọn giặc ngoại xâm giải phóng đất nước, bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, nêu những gương sáng cho con cháu mai sau.

Tư liệu từ Bảo tàng Phụ Nữ Nam Bộ

 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác