Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 06.969.4582 | Email: tapchitrian@gmail.com

Trang vàng liệt sĩ

Người anh hùng liệt sĩ Trần Đức Thông

Cập nhật lúc 09:45 28/11/2019

(ĐTTA) - Sáng mùa xuân trời se lạnh, chúng tôi về Hà Nam, đến nhà liệt sỹ Trần Đức Thông thắp nén hương tưởng nhớ ngày ông ngã xuống để bảo vệ biển đảo Tổ quốc, 5/3/1988. Ngày này hàng năm, cả gia đình đoàn tụ khá đông đủ, họ lại kể về chiến tích và cuộc đời của ông cho con, cháu nghe. Tại đây, chúng tôi được gặp chị Trần Thị Thu Hà, con gái cả của anh hùng liệt sĩ Trần Đức Thông và nghe chị kể...

Cha tôi lên đường nhập ngũ năm 1962, phiên chế vào Hải quân. Trong thời gian chiến đấu, ông đảm nhiệm nhiều vị trí, nhưng ở cương vị nào, cha tôi cũng luôn tận tụy công tác và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), cha tôi xác định nhiệm vụ gắn bó với quân đội, nên học xong chương trình trung cấp ở trường Phòng không, ông nhận công tác ở đơn vị trực chiến trên đảo Trường Sa. 11 năm, sống trên đảo, gắn bó với việc xây dựng và bảo vệ Trường Sa. Với lòng nhiệt tình và giàu kinh nghiệm của người lính đảo, cha tôi đã góp phần xây dựng đảo vững mạnh về mọi mặt, tổ chức tiếp nhận hàng ngàn tấn vật liệu và chỉ huy xây dựng đảo Thuyền Chài, nhiều năm liền tiếp nhận vũ khí, trang bị ra đảo một cách an toàn, đúng kế hoạch. 
 
 
Ảnh minh họa.
 
Vừa là cán bộ trong ban chỉ huy lữ đoàn, vừa hoạt động trong Ủy ban nhân dân huyện Trường Sa, ông đã đề ra biện pháp công tác phù hợp, góp phần cho hoạt động quân sự và công tác chính quyền vào nền nếp. Tháng 3 năm 1988, trên đảo xảy ra đụng độ giữa ta và Trung Quốc. Quyết tâm giữ vững chủ quyền biển đảo, ông đã tỏ rõ bản lĩnh vững vàng và quyết tâm cao trong việc chỉ huy bộ đội giữ vững chủ quyền của ta trên các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc cụm đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa. Ông tổ chức lực lượng đi khảo sát, xác định vị trí cắm cờ, làm nhà. 
 
Sáng sớm ngày 14/3/1988, khi ông đang chỉ huy bộ đội bốc dỡ vật liệu từ tầu HQ604 xuống đảo Gạc Ma. Lúc này tầu Trung Quốc đang bao vây, uy hiếp và dùng xuồng máy đổ quân lên đảo hòng nhổ cờ và chiếm đảo. Tình thế cấp bách, ông điện báo về sở chỉ huy với quyết tâm: Dù địch vây ép, dù mất tầu, chúng tôi quyết không lùi, rồi lệnh cho bộ đội trên tầu xuống đảo hỗ trợ lực lượng bảo vệ cờ và đấu tranh với địch, nhắc nhở bộ đội, hãy bình tĩnh, không được nổ súng khi chưa có lệnh để tránh sự manh động của địch. Và cũng trong trận chiến đấu bảo vệ đảo hôm đó, cha tôi đã anh dũng hy sinh để lá cờ đỏ sao vàng mãi mãi bay trên bầu trời Tổ quốc. 
 
Cha mất khi tôi mới 17 tuổi và em trai 14 tuổi. Còn nhớ, Tết cuối cùng cha về với ba mẹ con tôi. Ngày đó, người lính đảo cứ mười tám tháng được về thăm nhà một lần. Mỗi lần nghe tin cha về là mỗi lần ba mẹ con lại háo hức, mong chờ. Tôi còn cảm nhận được niềm vui đó từ những người hàng xóm của mình, có lẽ họ cũng mong gặp ông như chúng tôi. Nhưng từ đảo xa về nhà rất vất vả khi tàu xe đi lại khó khăn. Hơn một tháng nghỉ phép, cha tôi đã mất chục ngày cho việc đi lại. Về nhà nghỉ chưa được bao lâu, mồng 2 Tết năm 1988, ông nhận điện khẩn của đơn vị vào Nha Trang gấp. 
 
Chúng tôi ăn tết ngắn ngủi như thế, cha tạm biệt ba mẹ con lên đường. Trước lúc đi, ông đã gánh nước đổ đầy bể rồi nói vui: "Hôm nay bố gánh kỷ niệm cho con gái một bể nước".  Để đi vào Nha Trang, cha tôi phải mất một tuần đăng ký vé tàu từ ga Nam Định, chứ không phải ra ga Phủ Lý ở gần nhà. 
 
Khi cha ra chiến trường, cả nhà không hề linh cảm về sự hi sinh của ông, vì từ khi nhập ngũ, chiến đấu ở chiến trường miền Nam và chiến trường Quảng Trị. Cũng có những lần ông bị thương nặng, tình trạng nguy kịch nhưng rồi ông đều qua khỏi. Hơn nữa, ba mẹ con tôi vẫn nhận những lá thư của cha gửi về thường xuyên, cả những tháng sau khi cha mất. Đến mãi sau này, tôi mới biết những bức thư đó cha đã viết sẵn và dặn đồng đội, cứ năm ngày gửi về nhà một bức. 
 
Nhắc đến giây phút biết mình mất cha, tôi vẫn nhói lòng. Hôm đó, tôi và em trai nghe chương trình phát thanh Quân đội nhân dân phát lúc 21 giờ, bỗng nghe thấy tên cha mình: "Đồng chí Trần Đức Thông đứng ở boong tàu kêu gọi đàm phán. Bên kia cứ xả súng vào... Bị thương nặng nhưng đồng chí vẫn không rời vị trí cho đến lúc hi sinh."  Không tin vào tai, hai chị em chưa nói với mẹ. Đến 23 giờ đêm, đài phát lại chương trình đó, ba mẹ con mới tin là thật, ngỡ ngàng ôm nhau khóc. Mấy ngày sau đó, giấy báo tử đến nhà. 
 
Khi lớn lên có chồng con rồi, tôi mới hiểu mẹ đã hy sinh vì sự nghiệp của cha như thế nào. Cha mẹ lấy nhau năm 1971, cha hy sinh năm 1988, 17 năm từ thời chiến đến thời bình, ông luôn ở vị trí trực chiến. Thời gian cha mẹ gần nhau cộng lại chỉ khoảng một năm. Mẹ tần tảo nuôi con một mình, không một lời than phiền. Lương bổng ngày đó thấp, cả gia đình phải ở phòng tập thể nhỏ của Công ty Than. Sau đó, tận dụng một cái ao một người con nuôi của cha cho, mỗi lần về phép, mấy cha con lại đội đất, lấp ao cho đầy. Năm 1985, ba năm trước lúc mất, trong một lần về phép, cha mẹ làm được ngôi nhà cấp 4. Mẹ tôi là hậu phương vững chắc cho cha yên tâm công tác ngoài chiến trường. Đến năm 2005, mẹ tôi mất khi ở tuổi 58. 
 
26 năm qua, chị em chúng tôi luôn canh cánh trong lòng khi cha còn nằm ngoài biển khơi. Tôi ước gì được gặp cha, dù chỉ trong giấc mơ để nói với ông rằng: "Cha ơi! Con nhớ cha lắm! Trong lòng con và mọi người luôn khắc ghi tên cha." 
 
Ghi nhận công lao của cha tôi, năm 2002, người dân thôn Cộng Hoà đã góp kinh phí xây đài tưởng niệm ngay đầu đình làng. Cha hy sinh nhưng hình ảnh ông còn mãi. Đọng lại trong lòng  gia đình và các anh chiến sỹ câu chuyện về sự dũng cảm trong chiến đấu và giản dị, gần gũi ở đời thường. Cha mãi là niềm tự hào của tôi.
 
Diện Hứa
 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác