Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Trang vàng liệt sĩ

Trăm năm còn lại tấm lòng

Cập nhật lúc 08:04 10/02/2019

Tiếng mõ, tiếng chiêng từ ngôi nhà thờ thuộc chi tộc họ Thái ở thôn Tứ Trấn (xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) giữa tháng 7 Mậu Tuất (2018), mặc trời nắng như đổ lửa vẫn vang lên vẳng giữa thinh không. Tiếng tụng kinh của vị Sư Chủ trì trang trọng ấm áp trong nền của những tiếng niệm phật của con cháu của chi tộc làm không khí càng trở nên linh thiêng, huyền diệu.

Ông Thái Công Nguyên, ông Thái Công Đức và bà Thái Thị Thành đang làm lễ

Tôi gặp ở đầu thôn ông Nguyễn Văn Quang Trưởng thôn, ông Nguyễn Văn Giới là bậc cao niên trong làng, hai người vừa tới dự lễ Trai đàn cầu siêu gia tiên...của dòng họ Thái do ông Thái Công Nguyên là chủ lễ về. Tôi liền bắt chuyện. Hai ông thay nhau kể cho tôi nghe về sự kiện này và về quê hương Tứ Trấn của mình. Thôn Tứ Trấn của các ông có 5 xóm do nhiều dòng họ đến đây sinh sống mà lập nên. Đầu tiên có 4 phường thuộc làng Cổ Bi, sau năm 1945, đổi tên thành thôn Tứ Trấn.

Bản lý lịch đầy máu

Trong thời gian chống Mỹ, nơi đây là vùng tranh chấp giữa ta và địch. Năm 1960, Mỹ - ngụy lùa dân về xã Phong An, thôn Tứ Trấn nằm trong vành đai trắng. Mặc dù vậy, cán bộ, đảng viên , vẫn bám đất bám dân, đêm đêm vẫn vào vùng có dân xây dựng cơ sở. Sau năm 1975, cả thôn có trên 130 liệt sĩ, có gần 30 mẹ VNAH. Gia đình ông Thái Công Nguyên có nhiều thế hệ theo cách mạng; mẹ, chị dâu, chị gái đều là Mẹ VNAH... Biết được thông tin ban đầu tôi hào hứng vào dự lễ cầu siêu của chi tộc. Vừa bước vào sân thì giọng trong và ấm của Hòa thượng Thích Khế Chơn, phó chủ tịch Hội Phật giáo Việt Nam cất lên "Trăm năm còn lại tấm lòng...”Tôi như có một luồng điện chạy qua, gai cả người và rưng rưng xúc động. Và càng xúc động hơn khi ông Thái Công Nguyên đọc "cúng văn Thái Công gia tộc" ông bà cha mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng chúng con, chúng cháu nên người có ích cho gia đình và xã hội, chỉ tính trong chi tộc của chúng tôi thì con cháu nội ngoại đã có 18 liệt sĩ, 6 bà mẹ VNAH và hơn một chục mẹ liệt sĩ…”

Tôi chợt nhớ lại câu chuyện mà hai vị họ Nguyễn trong thôn vừa tự hào kể lại về quê hương. Ông Nguyễn Văn Quang giơ tay chỉ và nói bên tay phải thôn là núi Bồ, tay trái là dãy Trường Sơn. Vùng này ta với Mỹ - ngụy tranh chấp từ tấc đất, từng con người. Nên dân ở đây đàn ông thì hoặc là theo Quân giải phóng hoặc là đi lính ngụy, đàn bà trẻ con thì bị lùa vào ấp chiến lược. Bà Thái Thị Thành, người cựu chiến binh, thương binh thương tích đầy người, bước đi cứ bồng bềnh vì xương ống chân không đều do bị thương phải xử lý. Bà cùng chồng, các đồng đội cũ và các hội viên Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ quận Hoàng Mai (Hà Nội) về dự buổi lễ này, kể: Gia đình tôi, anh chị em, con cháu, dâu rể đều đi theo cách mạng không một ai theo giặc. Anh trai cả, Thái Công Nguyên là bộ đội đặc công đã đưa hết anh em con cháu đi quân giải phóng, bố mẹ tôi cũng tham gia cách mạng từ trước nên có nền tảng từ đó. Vợ nhà thơ Thanh Hải, bà Nguyễn Thị Thanh Tâm, thời bấy giờ là diễn viên của Đoàn Văn công Khu ủy Trị Thiên kể, khoảng năm 1965 - 1966 đoàn về biểu diễn phục vụ nhân dân ở xã Phong An, bà được đưa về nhà cụ Nguyễn Thị Quyên (mẹ đẻ ông Thái Công Nguyên) che chở. Khi địch đi càn, bà được mẹ của ông Nguyên đưa xuống hầm bí mật. Hầm đào dưới bụi tre, miệng hầm ngầm dưới nước. Muốn vào hầm phải ngụp xuống nước rồi mới vô được. Thường ngày hầm chỉ chứa được 4 người, nhưng hôm đó có tới 6 người, có cả chị Thái chị Thành cùng vào trú ẩn. Do quá chật nên mọi người phải bó gối mà ngồi. Người ướt hết, nhưng nước róc theo rễ tre nhỏ xuống suốt ngày nên người lúc nào cũng ướt. Tôi bị dị ứng toàn thân, mặt xưng to. Khi địch rút, tôi phải ở lại để dưỡng bệnh. Nhà của gia đình ông Nguyên lúc đó là nhà tranh rất lụp xụp, cơm ăn bữa no bữa đói, nhưng gia đình rất yêu thương đùm bọc chúng tôi. Giọng nói của bà nhỏ nhẹ hòa vào tiếng mõ lốc cốc, nghe lúc được lúc mất. Tôi thấy một cô gái úp mặt vào hai bàn tay, đôi vai thanh mảnh rung lên từng nhịp. Đó là Thái Thị Mai Lan - cô giáo trường tiểu học Thuận Thành (Thành phố Huế). Cô giáo Lan là con gái cựu chiến binh Thái Công Đức. Tôn trọng cảm xúc của cô, tôi ngồi bên cạnh. Lúc sau, cô giáo ngẩng mặt lên, đôi mắt đỏ hoe. Chúng tôi bắt đầu câu chuyện. Cô nói: đang chuẩn bị vào năm học, công việc nhiều nhưng hứa với lòng mình, dù bận thế nào cũng về quê dự lễ trai đàn. Tuy vậy, cũng không nghĩ việc tổ chức được hoành tráng, trang trọng như thế này. Ba và bác Nguyên vất vả chuẩn bị mấy ngày liền, tổ chức lễ suốt 3 ngày, con cháu về dự đông đủ. Cô giáo lớn lên chưa biết mặt ông bà nhưng rất tự hào vì thấy ông bà quá giỏi, vượt qua được khó khăn, gian khổ hy sinh mất mát quyết tâm đi theo cách mạng. Khi là sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Huế, là sinh viên xuất sắc cô được kết nạp Đảng tại trường. Khi xét lý lịch kết nạp Đảng của Thái Thị Mai Lan, thầy bí thư chi bộ - chủ nhiệm khoa nói, chưa bao giờ cầm lý lịch nào đầy máu và thấy đau sót như thế này. Chú, bác thì đông, nhưng khi viết câu cuối đều ghi là: Liệt Sĩ

Những câu chuyện đắng lòng

Chị Thái Thị The con gái út của liệt sĩ Thái Công Oanh, cháu của mẹ VNAH Phan Thị Tìa, đã định cư tại Nhật Bản 18 năm. Khi biết gia đình tổ chức sự kiện này đã cho con và rủ thêm một người bạn là người nước ngoài về dự. Chị nói: Vui không thể diễn tả được, vì nó chạm vào trái tim và khối óc. Suốt cả mấy ngày nay tôi chỉ khóc. Bố, các bác, chú ở cõi âm; người mất không toàn thây, không áo quan. Chị ruột Thái Thị Thơm mất khi 14 tuổi. Lúc đó chị làm liên lạc, khi chị vào thăm mẹ và các cô chú ở trong tù , trên đường về bị đạn đại bác bắn. Mạnh đạn cắt đầu chị lìa khỏi cổ, gia đình và dân làng phải mò xuống sông để mò tìm đầu của chị, sau đó mới làm đám tang. Bố của chị mất khi chị mới 3-4 tuổi. Bố về thăm mẹ lúc chị mới 3 tháng tuổi, từ đó đi mãi không về. Mẹ VNAH Phan Thị Tìa có người anh ruột là Phan Văn Bồi, ông là bộ đội, bị giặc bắt, tra tấn dã man, rồi chúng chặt đầu, phanh thây ông. Đầu của ông chúng đưa sang xã khác để bêu đầu thị uy. Khi chúng rút, dân làng đem xác ông đi chôn nhưng thiếu mất đầu. Hôm sau, dân ở nơi giặc mang đầu của ông đến bêu đầu khủng bố đã mang đầu của ông tới chôn vào ngôi mộ của ông. Nhưng không biết đâu là đầu, đâu là cuối nên nhân dân đã chôn đầu của ông dưới chân. Sau này những người chôn cất ông nói chuyện với nhau mới biết sự nhầm lẫn này.

Các liệt sĩ họ Thái, không chỉ chiến đấu và hy sinh tại quê hương mà còn hy sinh vì sự nghiệp quốc tế cao cả. Liệt sĩ Thái Công Bé chiến đấu hy sinh năm 1970 ở huyện Tu mồi, tỉnh Xa Vằn (Lào). Cuộc tìm kiếm người em út này như có sự hồi thúc của mẹ Nguyễn Thị Quyên nên Ông Thái Công Nguyên, Thái Công Đức quyết chí tìm em. Ông Thái Công Đức dẫn mấy người thân sang Lào, vượt rừng đến bản Tu Muôi. Thời gian qua đi, nhân dân địa phương làm nương rẫy khiến địa hình thay đổi. Cuộc tìm kiếm kéo dài đã 21 ngày, thực phẩm hết, người mệt…mọi người đã nản định bỏ về, ông Đức đề nghị kéo thêm một ngày nữa. Trời đã không phụ lòng, các ông đã tìm thấy người em của mình ở bản A Vao giáp với Việt Nam. Mẹ Thái Thị Quyên có 5 con là liệt sĩ, 3 con là thương binh, hai con gái là cơ sở cách mạng.

Đoàn của Hội HTGĐLS Quận Hoàng Mai làm lễ dâng hương

Một cõi đi về

Chị Thái Thị The hồi tưởng: khi tôi khoảng 5 – 6 tuổi, nơi xây dựng nhà thờ, chính là hố bom, chị em chúng tôi còn ngăn đôi hố bom để tát bắt cá. Cả làng tôi, kể cả cánh đồng trước mặt đều chi chit hố bom. Các bác, các chú còn sống đã thay mặt những người đã chết lấp hố bom xây cất nhà thờ để anh linh các liệt sĩ có chốn đi về. Gia đình tôi có nhiều liệt sĩ. Họ không có người nào được làm đám tang, không được thắp một cây nhang và cũng không được làm lễ mặc niệm. Chiến tranh ly tán, giặc giã tứ bề. Hòa bình lặp lại do hoàn cảnh cuộc sống, do công việc, công tác nên con cháu họ Thái chưa có điều kiện tụ họp. Đại lễ cầu siêu do chú Thái Công Nguyên chủ xướng đã có cơ hội cho con cháu xum họp. Và coi đây là một tang lễ cho những người đã mất. Bố tôi mất nhưng đã có gia đình riêng đã có con gái, nhưng nhiều cô chú hoặc anh chị em của tôi mất khi con rất trẻ, thậm chí chưa có cả người yêu…Dịp này cũng là sự an ủi, dỗ dành cho tất cả những người đã mất và cũng là sự hỉ xả cho những người còn sống, khi mà họ đã từng phải chặt nỗi đau để tiếp tục sống. Cô giáo Thái Thị Mai Lan nhỏ nhẹ: Mảnh đất ở đây là nơi chôn rau cắt rốn của những người trong gia đình đã hy sinh, nơi chờ đợi những người còn sống trở về, nơi các con cháu tìm về với cội nguồn. Nơi ấm áp tình người và thiêng liêng lắm! Cô vẫn nhỏ nhẹ, giọng xứ Huế dễ thương “Vật chất chỉ là phù du, tôi nghĩ, tất cả chỉ còn lại tấm lòng mà thôi”. Hình như nhà sư chủ lễ cũng đã nói như vậy, đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là sự tâm đầu ý hợp.

Ông Thái Công Nguyên, bậc huynh trưởng, người đã lái con thuyền chi tộc họ Thái theo cách mạng. Ông là linh hồn của chi tộc này cả trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước và trong cuộc sống tinh thần của ngày hôm nay. Sau chiến tranh ông trở thành một nhà khoa học lịch sử, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di sản văn hóa Huế. Người chủ trì lập hồ sơ đưa Huế vào di sản văn hóa nhân loại. Các con cháu của chi tộc họ Thái trên khắp các tỉnh thành đã về dự lễ Trai đàn, cầu siêu Gia Tiên chắc nhớ mãi ngày 26.7 năm Mậu Tuất./.

 Đỗ Văn Phú


 

 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác