Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0945.789.363 | Email: tapchitrian@gmail.com

Trang vàng liệt sĩ

Trung tướng Nguyễn Bình – “Tướng độc nhãn”

Cập nhật lúc 09:02 08/08/2018

Tiến sỹ người Mỹ Ellen Hammer viết trong cuốn sách của bà với nhan đề: The Struggle for Indochina 1940-1955 (cuộc chiến đấu giành Đông Dương): “Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bình, các bộ đội kém tổ chức, thiếu súng đạn, gặp nhiều khó khăn, trở ngại, dần dần trưởng thành, trở nên hữu hiệu và đáng sợ. Những ý đồ chia rẽ Việt Nam với sự ra đời của nước “Nam Kỳ tự trị” vào mùa Thu năm 1946 của Pháp đã hoàn toàn thất bại trước sự tấn công của quân du kích dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bình. Ý đồ thành lập một Liên bang Đông Dương của Pháp hoàn toàn “sụp đổ””.

ĐỔI MÀU

Trung tướng Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh ngày 30-7-1908, tại Thôn An Phú, nay còn gọi là Bần An Phú, Xã Tinh Tiến (nay là Xã Giai Phạm), Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên. Ông là con trai thứ ba trong gia đình, nên người làng hay gọi là Ba Thảo.

Trung tướng Nguyễn Bình

Thời trẻ, Ba Thảo là người thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát, thích giao du bạn bè và đi đó đi đây. Hơn mười tuổi, Ba Thảo theo người anh trai ra Hải Phòng học tập và học hết năm thứ hai bậc Thành Chung. Rồi sau đấy xảy ra sự kiện ẩu đả trong một trận bóng đá, Ba Thảo và bạn bè đánh trọng thương một học sinh người Pháp nên bị đuổi học. Năm 1925, tại Hải Phòng, Ba Thảo tham gia tổ chức cuộc bãi khóa của học sinh Trường Kỹ nghệ Hải Phòng, phản đối chế độ hà khắc của thực dân Pháp. Tiếp đến năm 1926, Ba Thảo lại tiếp tục lãnh đạo học sinh và một số quần chúng làm lễ truy điệu nhà trí thức yêu nước Phan Chu Trinh tại Dư Hàng Kênh, Hải Phòng.

Sau khi bỏ học, Ba Thảo đi làm thợ giặt ở Hải Phòng một thời gian rồi sau đấy xin vào làm công nhân tàu biển D’Artagnan (Đáctanhăng) của Hãng Massageri Maritime (Mátsagiơri Maritim), còn có tên gọi là Hãng Đầu Ngựa.

Vào giai đoạn sau này, tổ chức của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã phát triển tới các vùng Nam Bộ, trong đó có Sài Gòn. Ba Thảo được Trần Huy Liệu tuyên truyền, giới thiệu. Năm 1928, Ba Thảo gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học. Và cũng từ đấy, vốn mang sẵn trong lòng bầu nhiệt huyết “yêu nước”, Ba Thảo tham gia các hoạt động của đảng này đã bị mạng lưới mật thám Pháp giăng khắp nơi theo dõi, để ý các hoạt động của Ba Thảo. Tới năm 1929, Ba Thảo bị Pháp bắt ở Marseille, rồi chúng di lý về Tòa Đại hình Sài Gòn, kết án 5 năm tù, đày đi Côn Đảo (1930-1935).

Tại nhà tù Côn Đảo, Ba Thảo với các vị Trần Huy Liệu, Trần Xuân Độ được các tù nhân cộng sản giác ngộ cách mạng, khiến các ông thay đổi chính kiến, quan điểm lập trường, sau đó, Ba Thảo, Trần Huy Liệu, Trần Xuân Độ đã ly khai Quốc Dân Đảng nên bị phái cực hữu của đảng này ở trong tù âm mưu thủ tiêu các ông. Nhưng rất may, họ đều thoát nạn, riêng Ba Thảo bị trả giá quá đắt. Nhóm cực hữu Quốc Dân Đảng đã dùng cực hình lấy đi một mắt trái của Ba Thảo nên sau này tướng Nguyễn Bình còn có một bí danh riêng gọi ông là “Tướng độc nhãn”.

Đến năm 1935, khi mãn hạn tù, chúng trả Ba Thảo về quê nhà và bị quản thúc. Cũng từ đây Ba Thảo lấy tên là “Bình”, với ý nghĩa “Bình thiên hạ”. Tại quê hương, với khí chất “yêng hùng” và lòng nồng nàn yêu nước, Nguyễn Bình đã giao tiếp với quần chúng và làm nhiều hành động cao cả nên bọn kỳ hào, lý trưởng, chánh tổng, quan tri huyện địa phương rất kính nể. Nguyễn Bình đã tập hợp thanh niên trai trẻ trong làng và vùng lân cận, những người có chí hướng tiến thủ đến nhà ông để tập võ nghệ, hò hát, hội hè, bình phẩm thơ văn sôi nổi cả một vùng, ông là người đầu tiên dạy thanh niên vùng này hát bài: Cùng nhau đi hùng binh của nhạc sĩ Đình Nhu. Hàng đêm, bài hát đó vang lên khắp xóm làng vùng Bần Yên Nhân, hừng hực truyền cảm hứng cho bà con làng xóm. Từ đó, lại làm tăng thêm sự kính nể của bọn chức sắc địa phương đối với Nguyễn Bình.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, đến ngày 13/9/1945, ông cùng nhiều đồng chí tổ chức đánh bốt Bần Yên Nhân với chiến thuật dùng “nội công, ngoại kích” nên đã giành thắng lợi tốt đẹp, không tổn hại xương máu mà lại giành được nhiều chiến lợi phẩm. Sau sự kiện diệt bốt Bần Yên Nhân, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp khen ngợi và nói: “Đây là trận đánh du kích kiểu mẫu ở Đồng bằng Bắc Bộ”.

Để cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi, như đã nói ở trên, Nguyễn Bình đã chủ động tự mình cho thành lập Chiến Khu Đông Triều (hay còn gọi là chiến khu Trần Hưng Đạo hoặc Đệ Tứ chiến khu mà ông là “linh hồn”, thủ lĩnh của chiến khu này. Song song với việc lập chiến khu, Nguyễn Bình tự lo trang bị vũ khí, thao luyện binh sĩ và tổ chức tập dượt các lối đánh du kích để chờ thời cơ hành động.

Sau cuộc diệt bốt Bần Yên Nhân, Nguyễn Bình tiến hành phát động cuộc chiến du kích lan tràn sang nhiều vùng của Hải Dương rồi tới Thủy Nguyên, An Lão (Hải Phòng) làm cho giặc Pháp hoang mang thất điên bát đảo.

Tới ngày 6/6/1945, tại Làng Đạm Thủy, Xã Thủy An, Đông Triều, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bình, lực lượng vũ trang của ông cùng quần chúng yêu nước địa phương đã nổi dậy giành chính quyền và liên tiếp làm chủ 4 đồn: Đông Triều, Mạo Khê, Tràng Bạch, Chí Linh.

Sau đó, đến ngày 8/6/1945, Ban lãnh đạo khởi nghĩa quyết định thành lập Ủy Ban quân sự cách mạng gồm 4 vị: Nguyễn Bình, Hải Thanh, Nguyễn Hiền, Trần Cung đưa lực lượng vũ trang từ chiến khu Đông Triều cùng lực lượng quần chúng được phát động vũ trang bằng vũ khí thô sơ tỏa sang các vùng lân cận của Hải Phòng đánh đồn, diệt bốt.

Ngày 20/7/1945, Nguyễn Bình chỉ huy lực lượng vũ trang cướp chính quyền ở Thị xã Quảng Yên đã giành thắng lợi, gây tiếng vang rất lớn trong nước. Đây là đơn vị hành chính đầu tiên ở Bắc Bộ, trước Cách mạng Tháng Tám đã giành chính quyền về tay nhân dân.

Sau đấy, lực lượng vũ trang Đệ Tứ chiến khu của Nguyễn Bình theo lệnh của Trung ương tiến sang giải phóng các vùng lân cận và tiến vào giải phóng Thành phố Hải Phòng, thành lập chính quyền nhân dân. Ông là người đầu tiên nắm chức Tư lệnh vùng duyên hải Bắc Bộ và thủ lĩnh của Chiến khu Đông Triều diệt bốt, phá đồn, tấn công vào nhiều vị trí đóng quân của giặc Pháp, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề bằng lối đánh du kích với chiến thuật “bông hoa nở” bằng cách binh vận, địch vận, tuyên truyền, tung nội gián vào hàng ngũ địch, lấy thông tin từ hàng ngũ địch để chủ động tổ chức trận đánh, giành thắng lợi ít tổn thất mà thu được nhiều vũ khí, đạn dược của địch để đánh địch. Nguyễn Bình đã tổ chức cho đánh tàu Commandant Bourdais và tập kích bọn Pháp ở khắp vùng Đông Triều đến Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, buộc bọn thực dân Pháp phải “căng mình” dàn lực lượng ra chống đỡ một cách bị động.

XẢ THÂN VÌ NGHĨA LỚN

Chính quyền non trẻ vừa mới ra đời đang đứng trước “ngàn cân treo sợi tóc”. Ngày 23/9/2945, thực dân Pháp tiến hành gây hấn và trở lại xâm chiếm Nam Bộ. Chúng gây ra các vụ tàn sát đẫm máu và bắt bớ khắp nơi đồng bào yêu nước và các chiến sĩ cộng sản. Thực dân Pháp đang âm mưu “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt” nhằm âm mưu lập ra một nước “Nam Kỳ tự trị”. Chúng dùng thủ đoạn hết sức “thâm độc” chia rẽ các đảng phái, bè phái, đơn vị vũ trang kích động mâu thuẫn dẫn tới thôn tính lẫn nhau.

Nam Bộ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có nhiều nhóm vũ trang của các phe nhóm: Ba Dương, Bảy Viễn, Mười Trí, Tám Mạnh, Bảy Mơn, Mười Lực, Tư Thược, Hoàng Thọ, Ba Nhỏ vv… Tất cả các phe nhóm, đảng phái đều xưng hùng xưng bá, cạnh tranh lấn át, chém giết lẫn nhau. Ai cũng muốn có một “triều đình riêng một góc trời”, chẳng phe nhóm nào chịu nhau, họ phân chia, tranh giành quyền lực từ Sài Gòn – Gia Định tới các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Nhất là nhóm giang hồ Bảy Viễn khét tiếng vùng Nam Bộ về sự tàn ác của nó. Ban đêm, chúng bịt mặt cải trang xông vào thành phố, thôn ấp, nhà dân cướp của giết người. Ban ngày chúng tự xưng là những anh hùng “yêu nước giết giặc”.

Giai đoạn này, chiến trường Nam Bộ cần có một “Đinh Bộ Lĩnh” để thống nhất các sứ quân. Bác Hồ đã mời Đệ Tứ chiến khu – vị Tư lệnh Chiến Khu Vùng Duyên Hải Bắc Bộ để giao nhiệm vụ vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang chống Pháp.

Khi Nguyễn Bình được mời về gặp Bác, Người nói: “Bác giao Nam Bộ cho chú đó”. Chỉ vẻn vẹn bằng 7 từ thôi, nhưng Bác đã tin tưởng và quyết định giao cả “giang sơn Nam Bộ” cho Nguyễn Bình.

Ở Nguyễn Bình, Bác đã nhìn thấy khả năng hội đủ các yếu tố của một người chiến sĩ cách mạng: giàu lòng yêu nước, dám xả thân vì nghĩa lớn; có khí chất của anh hùng hảo hớn, có tài giao du, trí tuệ hơn người, có khả năng quy phục các nhóm “hảo hớn giang hồ”. Khi đó, Nguyễn Bình chưa phải là đảng viên Đảng cộng sản (mãi tới năm 1947, ông mới được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương), nên bọn mật thám Pháp và đám giang hồ ít để ý đến Nguyễn Bình.

Sau khi nhận nhiệm vụ được Bác giao trực tiếp, vào những ngày đầu tháng 11/1945, Nguyễn Bình đã vào đến đất Nam Bộ. Nơi ông dừng chân là vùng đất Thủ Dầu Một. Sau một thời gian ngắn quan sát và nghiên cứu tình hình, cho tới ngày 22 – 25/11/1945, với tư cách là đặc phái viên của Bác Hồ, được Trung ương phái vào Nam Bộ, Nguyễn Bình đã cho tổ chức Hội nghị Quân sự tại An Phú Xã (Gia Định) để thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ. Tại Hội nghị này đã có 39 đại biểu đại diện cho 39 thành phần xã hội tham gia chống Pháp. Hội nghị có sự tham gia của các lực lượng vũ trang, đảng phái, phe phái như: Miền Đông Nam Bộ, Bình Xuyên, Đệ Tam sư đoàn, Cao Đài…

Tại Hội nghị này, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được cử làm Bí thư Liên tỉnh miền Đông. Hội nghị lấy tên chung của lực lượng vũ trang là Giải phóng quân.

Đây là Hội nghị quân sự đầu tiên mang tầm vóc lịch sử vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Hội nghị đã bầu Nguyễn Bình là Tổng Tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ. Trong buổi nhận nhiệm vụ hôm ấy, Nguyễn Bình đã đọc lời thề nguyện: “Đem hết tinh thần và nghị lực cùng đồng chí, đồng bào quyết tâm đến cùng đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi Nam Bộ. Nếu mất Nam Bộ, Nguyễn Bình sẽ tự quyên sinh”.

Nguyễn Bình đã tiến hành đề nghị thành lập Mặt trận Quốc gia Liên hiệp Việt Nam. Ngày 24/4/1946, tại bản doanh ở Chiến khu Bà Quẹo của tướng Huỳnh Văn Trí (Cao Đài), Nguyễn Bình đã triệu tập các đảng phái chính trị cùng các phe nhóm vũ trang tới dự hội nghị. Trong đó, về tôn giáo có Huỳnh Phú Sô (đại diện Hòa Hảo), tướng Huỳnh Văn Trí (tức Mười Trí - đại diện lực lượng Bình Xuyên) và Lê Văn Tý (đại diện cho Cao Đài), Trần Văn Lắm, Phạm Huy Đức, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Bảo Toàn (đại diện cho V.N.Q.D.Đ). Ngoài ra, có các nhân vật vai vế thời đó tham gia như Linh mục Nguyễn Bá Sáng, Nguyễn Văn Nhân. Đại diện cho Nguyễn Bình có các nhân vật: Lâm Văn Hậu, Mai Thọ Trần, Phạm Đình Công.

Ngày 12/12/1945, Nguyễn Bình đã cho thành lập Trường Quân chính Quân khu 7 tại Thủ Dầu Một (Bình Dương). Sau này khi nói về sự kiện trên, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Trung Kiên đã đánh giá: “Đây là một quyết định cực kỳ quan trọng. Từ mái trường này đã cung cấp cho lực lượng vũ trang Quân khu 7 cũng như toàn quân hàng vạn cán bộ quân sự, chính trị và chuyên môn kỹ thuật”.

Trường này, hai khóa đầu mang tên Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Hơn 100 cán bộ sau hai khóa đào tạo đã được Nguyễn Bình lập tức phân công điều động  về các cơ sở “nằm vùng” hoạt động. Trong số đó, được chi viện phần lớn cho đô thành Sài Gòn - Gia Định.

Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn chưa đầy 2 năm (1946 – 1947), ông đã cho quy tụ được lực lượng giang hồ khét tiếng như Bảy Viễn , Ba Dương, Tám Mạnh, Mười Trí, Tư Thược, Hoàng Thọ, Ba Nhỏ… tham gia kháng chiến ở Nam Bộ. Và cái tên “Bộ đội Bình Xuyên” đã ra đời từ đấy. Họ đã trở thành đội quân có tổ chức, sinh hoạt chính quy hùng mạnh, mở các đợt tấn công vào bọn thực dân Pháp ở khắp mọi nơi, diệt đồn, phá bốt, ám sát cá nhân (những tên Việt gian bán nước) làm cho bọn thực dân Pháp và tay sai hết sức hoang mang, có lúc lâm vào thế bị động.

Với thành tích này, ngày 20/11/1948, Nguyễn Bình được Bác Hồ, Trung ương phong quân hàm Trung tướng (vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam) và được cử làm Tổng chỉ huy chiến trường Nam Bộ. Lễ thụ phong Trung tướng được tổ chức vào tháng 7/1948, tại Làng Nhơn Hòa lập trên con kênh Dương Văn Dương (Đồng Tháp). Tháng 10/1948, khi Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập, tướng Nguyễn Bình làm Tổng tư lệnh. Ông còn là Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, Ủy viên quân sự Nam Bộ.

Trong thời kỳ ấy, để đối phó với một kẻ địch mạnh, vũ khí trang bị hiện đại, quân đội chính quy, Nguyễn Bình cho tiến hành một cuộc chiến tranh du kích tổng diện toàn lực vào các vị trí đóng quân, đồn, bốt của địch. Ông cho thành lập nhiều các Chi đội, có lúc lên tới 25 Chi đội phân công hoạt động trên nhiều địa bàn, phân khu, chi khu. Tại Sài Gòn – Gia Định, cho thành lập Ban Công tác Sài Gòn (lúc đầu có tên là Nhóm dao găm. Sau này có tên gọi là Biệt động Sài Gòn). Trong các đơn vị chiến đấu, ông cho thành lập hàng loạt các ban như: Ban trinh sát Hùng Vương, Ban trinh sát Quân chính, Ban vô hình, Ban ám sát, Ban trừ gian, Đội cảm tử Nguyễn Bình.

Song song với việc thành lập các tổ chức hoạt động độc lập, đơn lẻ, tiến hành tập kích theo lối “du kích chiến” đột xuất, bất ngờ vào các nơi sơ hở của kẻ địch, ngay cả những nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất cũng bị các đơn vị “biệt động quân” của Nguyễn Bình tấn công. Ngoài ra, Nguyễn Bình còn quyết định xây dựng lực lượng chính quyền cơ sở, được tổ chức theo từng địa bàn khu vực hành chính. Chẳng hạn, ông cho thành lập lực lượng Tự vệ thành hoạt động phối hợp chặt chẽ với Thành bộ Việt Minh Sài Gòn – Gia Định do chỉ huy trưởng là đồng chí Nguyễn Xuân Diệu lãnh đạo. Tự vệ thành được tổ chức theo địa bàn dân cư. Nhiệm vụ của Tự vệ thành là đưa chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân vào lòng địch. Bước đầu, đã xây dựng, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân theo chỉ thị “Kháng chiến, Kiến quốc” của Trung ương.

Có thể nói việc thành lập Trường Cán bộ quân chính đào tạo nguồn nhân lực, thống nhất các đơn vị vũ trang, tổ chức lực lượng Biệt động thành, Tự vệ thành là những quyết định sáng tạo, kịp thời của tướng Nguyễn Bình mang tầm vóc thời đại, chiến lược của cuộc Cách mạng miền Nam.

Ngày 29/9/1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi, ông bị quân Pháp phục kích và hy sinh tại Campuchia. Tháng 2/1952, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương quân công hạng nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.

Ngày 29/2/2000, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đã di chuyển hài cốt của ông về an tang tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh. Tang lễ được cử hành theo nghi thức long trọng. Ông còn được nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân./.

Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Điệp

Giám đốc Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học Công nghệ CTCS

-------

(1) Bảy Viễn vốn là một tên giang hồ lưu manh trộm cướp đã vào tù ra tội nhiều lần, sau này Bảy Viễn phản bội Việt Minh, bị Pháp mua chuộc. Viên tướng De la Tour đã gắn lon Đại tá cho y và vào năm 1949 , Bảo Đại phong hàm Thiếu tướng, được làm cảnh sát công an  đô Thành Sài Gòn.

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác