Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0963.53.88.39 | Email: tapchitrian@gmail.com

Văn hóa - Văn nghệ

Một Con Đường Phạm Tiến Duật!

Cập nhật lúc 10:19 11/05/2019

LTS: Trong cuốn "Đi qua đời tôi: có vài người văn tôi viết tới hai bài ở hai thời gian khác nhau. Phạm Tiến Duật là trong số họ. Bài điếu khi anh Duật mất thì "Phạm Tiến Duật Là Một Con Đường", còn bài sau là "Phạm Tiến Duật cần một con đường". Nay thêm một bài nữa để cho anh em bạn bè đọc thấy tính đa dạng của văn nghệ sĩ và cũng ôn lại những kỉ niệm xưa.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật.

Từ nước Đức xa xôi, tôi đọc báo Văn Nghệ Công An có bài “Sự gắn bó máu thịt giữa nhà văn với đất nước“ của tác gỉa Hồng Thái, nhân dịp cố thi sĩ Phạm Tiến Duật được Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, tôi rất xúc động. Ngồi trong đêm tôi nhớ tới khuôn mặt trầm tư của phạm Tiến Duật ở buổi ban đầu gặp anh. Tôi không cầm lòng đặt bút kể một mầu chuyện nhỏ giữa chúng tôi âu cũng góp thêm nét về con Người Thơ này với vài suy nghĩ của cá nhân.

Tôi gặp Phạm Tiến Duật lần đầu tiên tại nhà riêng, trên gian nhà tuyềnh toàng ở khu tập thể của vợ chồng anh vào đầu năm 1985. Cuộc gặp này, thông qua anh của cậu Nguyễn Mạnh - người em ruột bạn thân từ chiến hào của tụi tôi, cũng là em kết nghĩa với anh Duật, người mà năm nào P.T. D yêu thương, cảm động làm thơ tặng "Cậu em ở xí nghiệp nhạc cụ Hà Nội, hay mang mùn cưa về cho anh Duật nấu bếp“. Đấy là thời bao cấp khó khăn cả củi đuốc. Nay Nguyễn Mạnh sống ở Muenchen...

Kỉ niệm này chôn sâu trong tôi, bởi vì đấy là lúc tôi lần đầu tiên tập viết truyện ngắn, mang tới nhà anh bản thảo đầu tay "Rồi chúng con trở lại quê hương". Bản thảo mà trước đó thực ra tôi không cần anh bảo lãnh, vì nó đã được thi sĩ Đỗ Bạch Mai đọc, khi chị ở Ban bạn đọc của báo Văn nghệ. Sau đó Mai đưa ngay cho Bế Kiến Quốc thẩm và kế đó là Trưởng ban văn xuôi Ngô Ngọc Bội duyệt, các anh đã định đưa vào kế hoạch in. Tôi nghe lời bạn chiến hào, đưa bản thảo tới anh Duật, muốn để nghe ý kiến của một nhà thơ, một người tôi rất yêu, từng đọc thơ của anh trong rừng cho bộ đội tiểu đoàn nghe suốt từ 1969. Những bài thơ thuộc về Con người Trường Sơn ngân nga dọc đường chinh chiến, sưởi ấm tôi và bè bạn trong rừng.

Nhưng bữa đó, vừa bước vào nhà tôi đã thấy một vị khách của anh Duật ngồi sẵn và thấy sắc mặt anh Duật không vui. Hoá ra đó là một người làm thơ tới đang nhờ anh việc gì đó. Tôi không rõ họ có vấn đề gì với nhau, mà sau khi anh ta bước ra về, anh Duật vẫn giữ vẻ không vui, lạnh lùng đón bản thảo truyện ngắn của tôi sau khi nghe bạn tôi, cũng là bạn của anh Duật nói dăm câu giới thiệu.

Anh Duật hững hờ cầm bản thảo, lật lật mấy trang viết tay chi chít, ngước đôi mắt to, hơi có tí men, rồi quan sát rất nhanh khuôn mặt có vẻ chả lương thiện, hiền lành gì của tôi, khuôn mặt tự tôi biết, khắc khổ,phong trần bởi 11 năm chiến cuộc, một năm thất nghiệp lang thang ở Hà Nội làm đủ việc để tồn tại... Xong, Duật buông thõng một câu: 


- Cậu muốn trở thành nhà văn hả? Muốn làm văn trước phải học đạo làm người đã!


Hãy thứ lỗi cho tôi, nếu giờ đây anh Duật có đội mồ đứng dậy, chắc anh không trách. Tôi cảm giác như có roi quất vào mặt, tôi đã đứng phắt lên. Nhanh như chớp, tôi gịật phắt bản thảo trở lại. Tôi đứng dậy nói một thôi, không còn nể gì, cả người bạn nối khổ của tôi ở chiến hào đã tận tình đưa tôi đến diện kiến thi sĩ - Người thơ Phạm Tiến Duật, người mà tôi bao nhiêu năm lấy thơ anh làm nơi nương tựa ở trong rừng.


Nắm chặt bản thảo trong tay, tôi nói một hơi không nghỉ:
- Thưa anh. Em thật hoàn toàn thất vọng. Em tới đây nhờ anh đọc truyện ngắn đầu tay này, bởi vì em không một ngày học văn, nợ đời mà viết, nhân vì thấy bây giờ trong văn học và sân khấu nhiều người vẫn nói về chiến tranh một cách giả dối. Em đã nộp bản thảo này cho Tuần báo Văn nghệ, và anh Ngô Ngọc Bội đã cùng anh Bế Kiến Quốc biên tập, để in số tới. Em tin bạn em, anh Tỉnh là lính cùng đơn vị, cũng là chỗ thân với anh giới thiệu đến với anh. Em muốn nhờ anh đọc, đọc để chỉ cho em sự non bấy nếu có ở câu chuyện này, khi từ sự thật lấy được ở chiến tranh mà cấu thành một tác phẩm văn học. Chứ em không có ý định nhờ anh dùng uy tín và tựa vào quyền lực của anh để in. Việc dạy em về văn là cần, rất cần, em mong, song dạy làm Người thì thưa Ông Duật, tôi không cần. Thưa ông. Dạy làm người, tôi đã có, trước là cha mẹ, tức cậu mợ em, sau là những người lính và cả những bài thơ trong đó có thơ anh. Tức cuộc đời em đã đủ dạy. Bây giờ em đã là Người, không cần anh phải nói câu nói đó. Xin lỗi anh, em không cần anh đọc bản thảo này nữa, bởi vì anh chưa hiểu hết lẽ sống của chính những người đã được anh ca ngợi...

Tất cả sững sờ, tôi nói xong, run bắn, cả bàn tay cầm bản thảo cũng run rảy.
Chỉ xíu nữa tôi, đã giáng cho Duật một cú đấm, nếu tôi không còn ý thức anh là nhà thơ tôi từng yêu quý, nương tựa ở trong những ngày tính mạng treo trên những sợi tơ. Sau này nghĩ lại, tự biết là hình như lỗi ở tôi. Tôi đã tới chân thành, như là “ba bát sành, có rá cơm nguội," song tôi không bày chúng ra cửa số tròn(1). Tôi tới đúng khi anh đang tức giận ai chăng? Song khi đó tôi vẫn giận anh vô cùng. Bởi ở cả cuộc binh lửa, chưa một ai giám nói, như thể xúc phạm tôi. Kể cả các vị tướng hay cán bộ tiểu, trung, sư đoàn. Nói xong, tôi gật đầu "Em chào anh" và, quay phắt ngay ra cửa nói: "Tỉnh, về thôi mày!" Nguyễn Tỉnh, bạn thân của tôi rất hiền, ngơ ngác, vì không ngờ tình huống lại xấu như vậy.

Nhưng lập tức anh Duật tỉnh phắt. Anh đứng lên chặn tôi.
Nhẹ nhàng bá vai tôi, dìu tôi xuống ghế. “Em ngồi đây...uống nước đã. Để đây anh xem.“- Nói xong anh Duật cầm, gỡ lấy bản thảo truyện ngắn từ tay tôi. Tỉnh cũng can: “Thọ ơi, đừng nóng. Ở lại đây trò chuyện đã!“ Tôi ngồi xuống với bạn Tỉnh của tôi và chỉ muốn oà khóc.
Khi ấy Tỉnh quay sang phía anh Duật lại cười cười nói: "Anh Duật ạ, thằng bạn này nó nóng lắm, xin anh hiểu. Ở với nó bao năm đánh nhau em biết nó lắm"
Duật người thơ của tôi im lặng, tráng chén, ấm, pha trà mới. Tôi cảm giác nghe rõ trái tim tôi thình thịch đập.
Mười lăm phút sau, đó là các câu hỏi, với câu trả lời nhát gừng, lạnh tanh của tôi: “Tôi đã viết từ năm nào, lí do tôi viết lại hôm nay, tôi là con cái nhà ai v.v..."
Câu chuyện tẻ, nhạt hoét.
Duật ngồi trầm tư mấy phút. Tôi cáo anh xin về.
Tôi đi về, mang theo nỗi buồn nặng trĩu, suốt đêm đó trằn trọc. Tôi không biết rằng, ngay đêm ấy anh Duật đã đọc, biên tập rất cẩn thận và viết tay các dòng nhận xét rất chân thật, sòng phẳng, nhưng đầy tình ưu ái “một người đồng đội cũ, người đứa bắt đầu bước vào con đường đầy khó khăn và chông gai“ Mãi về sau khi thân với nhau rồi, anh mới nói lại. Sau mấy dòng nhận xét chéo trên trang giấy có chữ anh kí rất trân trọng. Ghi rõ Phạm Tiến Duật.

Mãi tới hai, ba hôm sau, Bế Kiến Quốc mới gọi điện và cho tôi xem bản thẩm định ấy rồi nói: "May quá, tôi không cắt một câu nào của ông nhé...Ông may mắn lắm đấy, gặp Mai vợ tôi rồi lại gặp bậc thầy biên tập thơ và văn xuôi ở báo này"
Tôi ngồi ở phòng ban văn xuôi Tuần Báo Văn Nghệ, đọc rất kĩ lại bản thảo mà anh Duật chữa từng dấu phẩy, từng lỗi chính tả, cả câu tôi tả năm 1972 quàn xác bạn tôi trong rừng, “những thanh lồ ô chẻ đôi, úp ken sát nhau thay áo quan, tôi gói anh trong cái tấm nilon bom bi xiên thủng mấy lỗ“ ra sao. Anh Duật chân thành bảo, anh không cắt gì, ngoài câu văn này. Em viết như thế, cha mẹ nào còn dám cho con lên biên giới bảo vệ biên cương nữa! Và, cầm bản thảo có bút tích và lời phê khen tác giả của anh, tôi bật khóc.

Truyện ngắn đầu tay ấy mang dấu ấn của ba người ân tình suốt cả đời văn của tôi sau này, tới hôm nay tôi có thể tự hào nói, tôi là một cây bút truyện ngắn khá vững vàng, có sự khởi lên từ nguồn ấy, để mãi mãi sau này, từng bước văn của tôi có anh và nhiều bè bạn trước tôi động viên, cổ võ. Nhất là khi tôi 10 năm bỏ bút, sang Đức lang bạt. Mỗi khi về nước, Phạm Tiến Duật luôn luôn mắng yêu, thúc giục tôi cầm bút trở lại : “Em phải viết tiếp… đừng bỏ em ạ! Em có tài mà!“
Với anh Duật, tôi cũng là người biết rõ mọi đau khổ dằn vặt của anh trong sinh hoạt, trong tình ái, trong nhiều hệ luỵ, cái mà người nghệ sĩ đích thực, lớn lao bao nhiêu, nổi tiếng bao nhiêu thường gặp phải sự oan khiên không hề nhẹ. Còn anh, sau trước vẫn là một con người tài năng, tình cảm, hết lòng vì bao bạn văn. Đã là con người, Duật bị cuốn vào cơn lốc xoáy của thời cuộc, những hoàn cảnh không khả năng tự vệ, sống một cuộc sống thực chất không ra gì. Đau đớn và có lúc tưởng như tuyệt vọng!

Với tôi ngoài sự thân thiết như người anh em, Phạm Tiến Duật là Một con đường. Một đại lộ lớn ở Thi ca cách mạng những năm chống Mỹ. 
Chính thơ anh chứ không ai khác, ở nơi đầu sóng ngọn gió, nơi bom đạn ác liệt rình dập từng giây, từng phút, dễ dàng cướp đi mạng sống của người lính, thơ Phạm Tiến Duật khi bừng cháy như ngọn đuốc, khi lại êm chảy như dòng nước mát, dẫn đường trên mọi nẻo Trường Sơn ra trận, thơ anh còn an ủi nâng đỡ tâm hồn người lính, hun đúc thêm ý chí, lòng dũng cảm, tình đồng đội, giúp tụi tôi sống và đấu tranh không mệt mỏi, đội ngũ bên nhau không cô độc để tới ngày thống nhất đất nước!

Phạm Tiến Duật xứng đáng được tưởng thưởng giải thưởng Hồ Chí Minh, cũng như sự vinh danh những người đã cùng anh trên các nẻo đường Trường Sơn năm ấy, trong đó có cả chúng tôi, những cựu binh từng ở Trường Sơn.
Với cá nhân tôi, từ các bài thơ đọc ở tạp chí Văn nghệ quân đội của anh, tới buổi sơ ngộ đầu tiên nói trên, cho tận tới khi thương khóc lúc anh vào cõi thiên thu, Phạm Tiến Duật mãi mãi là người anh, một con người đầy thương cảm, sâu nặng. Nay ở Đức nghe tin anh được giải thưởng cao quý Hồ Chí Minh của Nhà nước và nhân dân trao tặng, tôi vô cùng mừng, âm thầm xúc động và nhớ lại bao nhiêu kỉ niệm. Dầu muộn màng, dẫu chả mang lại điều cần thực ở danh vọng và miếng cơm manh áo cho một con người khi anh đã lìa xa cõi đời ngổn ngang, trầm luân, tôi vẫn vui vì Danh dự là điều đáng trọng nhất của con người phương Đông. Con người như Duật đã cống hiến tất cả cuộc sống, tài năng và sức lực cho cách mạng, cho cả lứa em đi sau anh trên văn đàn như chúng tôi. Danh dự con người ta cần gìn giữ và tôn trọng...
Phạm thi sĩ đã được thêm một lần nữa vinh danh sau Huân chương Lao động hạng Ba, ngày anh mất. Tôi cứ tự hỏi ở thành phố nào đó từng gắn bó với Trường Sơn, sao chưa có một đường phố mang tên anh? Quảng Bình, Vinh hay Hà Nội, nơi anh ra đi ra chiến trường từ trường Đại học Sư phạm? 
Phạm Tiến Duật phải có một con đường dành cho tên anh!

 

Nguyễn Văn Thọ

 

Phạm Tiến Duật (14 tháng 1 năm 1941 – 4 tháng 12 năm 2007) là một nhà thơ Việt Nam với nhiều tác phẩm thơ tiêu biểu viết trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.

Ông sinh ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam. Cha ông là nhà giáo, dạy chữ Hán và tiếng Pháp, còn mẹ làm ruộng, không biết chữ. Ông tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, nhưng sau đó không tiếp tục với nghề giáo mà quyết định lên đường nhập ngũ. Trong thời gian này, ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn. Đây cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng. Năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

 

Chia sẻ:

Các tin khác

Danh sách liệt sĩ đã quy tập

  Tên chiến sĩ Quê quán
1 Nguyễn Xương Thái Bình
2 Nguyễn Văn Tuy Thái Bình
3 Phạm Văn Tuấn Thái Bình
4 Vũ Văn Tiến Thái Bình
5 Tèo Thái Bình