Hotline: 0913.842.499 | Liên hệ quảng cáo: 0943.857.078 | Email: tapchitrian@gmail.com

Văn hóa - Văn nghệ

Những trang thơ tri ân

Cập nhật lúc 08:23 10/02/2019

Với 34 bài trong tập “Đêm gọi dậy sao trời” thì có 11 bài thuộc chùm thơ đoạt giải tư “Cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài Thương Binh - Liệt sĩ và người có công (1947 – 2017) do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cùng Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức. Cũng trong tập có 2 bài đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác văn học “Ký ức Trường Sơn (2013 – 2014) do Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh Việt Nam tổ chức.

Tác giả và nhà thơ Phạm Trọng Thanh tại Côn Đảo , năm 2006

Đó là những tác phẩm của nhà thơ Phạm Trọng Thanh viết nhiều về đề tài chiến tranh cách mạng, người lính và mảng tác phẩm chiếm số nhiều là tri ân các anh hùng, liệt sĩ, thương binh, người có công. Những bài thơ với cảm hứng chủ đạo Tri Ân. Nhà thơ chọn lối viết khá phù hợp: đẹp và trang trọng. Như bài “Đêm gọi dậy sao trời”, viết về những liệt sĩ sư đoàn 2, quân khu 5:...Những người lính trẻ tháng tư tề chỉnh/ Đội hình ngôi sao lấp lánh cánh rừng dài/ Biển Hồ nồng nàn mùa sen cao nguyên/ vòng sóng cồng chiêng buôn làng mở hội…
Ở thành phố Nam Định có một cái ngõ khá đặc biệt. Từ thời Nam Định lập trường thi Hương thi Hội, văn nhân sĩ tử mỗi lần lều chõng về trường thi thường hay đến cái ngõ này ở trọ, ăn uống nên ngõ hình thành một cái tên tự nhiên, do người ta gọi nhiều mà thành tên: Văn Nhân. Đến những năm kháng chiến chống Mỹ sống trong cái ngõ nàycó một người đàn bà tên là Thành Thị Du,mẫu thân của nhà văn anh hùng – liệt sĩ Nguyễn Thi. Một lần Phạm Trọng Thanh đến thăm mẹ, thắp hương viếng nhà văn rồi viết bài “Trong ngõ Văn Nhân”:..Một người mẹ mái đầu bạc trắng/ Sông Hồng vẽ nếp gian nan vầng trán tuổi già/ Khoảng sáng trên tường/ Tấm ảnh nhà văn mái tóc như sóng lượn/ Lặng lẽ nhìn mẹ/ Đôi mắt mênh mông thăm thẳm bao điều/ Lời thưa chỉ một mình mẹ biết…Gần cuối bài thơ, nhà thơ phác họa chân dung nhà văn  Nguyễn Thi bằng hai câu ấn tượng: Trái tim chật chội khát vọng ngàn lần/ Giọt giọt hồng cầu dồn cho trang viết.
Trong bài “Khát vọng người đi”, Phạm Trọng Thanh  mô tả cuộc hành quân vào chiến trường của nhà thơ trẻ quân đội Hoàng Minh Chính, tác giả bài thơ “Đi học” được nhạc sĩ Bùi Đình Thảo phổ nhạc thành bài hát thiếu nhi nổi tiếng: nhà thơ tuổi mười chín lên đường/ Chuyến đò sông Lô mưa phủ trắng…Và khi Minh Chính trở thành một sĩ quan chỉ huy hành quân sang Căm-pu-chia giúp bạn chiến đấu chống bọn diệt chủng, tác giả viết: Vòm cây thốt lốt tháng ba mùa hoa/ đây chàng trai Việt/ ôm súng nhớ đồng Ý Yên hoa súng quê nhà/ bạn bè chia xa bao điều chưa nói/ gửi trong nguyên vẹn nụ cười/ nhành ngụy trang trên mũ còn tươi.
Thăm nghĩa trang ngã ba Đồng Lộc, nơi tiểu đội nữ thanh niên xung phong hy sinh anh dũng, tác giả viết: Cây vượt dốc lên ngã ba Đồng Lộc/ Đồng đội hóa thân vào đất đá làm đường/ mười nấm mộ những người trinh trắng/ cành lá gọi về thân thiết một mùi hương…Hương ở đây chính là hương bồ kết mà họ gội đầu.
Cuộc chiến tranh với đế quốc Mỹ, người Việt Nam không chỉ có những người lính đội mũ đeo sao là hy sinh mà còn có cả những nhà giáo, trong đó có bạn của tác giả, cũng vượt Trường Sơn mang cái chữ vào với vùng xa vùng sâu ngay từ khi cuộc chiến chưa kết thúc; họ cũng đổ máu, hy sinh như những người lính vây: Khuất sau lửa bom bên cửa hầm trú ẩn/ Những mái trường lá trung quân lá dừa lợp tạm/ ấm áp giọng thầy cô tiếng trẻ học bài/ Kìa ngọn bút vút cao nền mây trang sách mở/ bia tưởng niệm đồi 82 Tây Ninh tinh anh về hội tụ/ sáng dòng tên các nhà giáo quên mình/ hoa thắm triền đồi hoa bay trong trời xanh…
Trong tập thơ, có hai bài thơ dài vạm vỡ như hai trường ca, đó là “Đường lên Tây bắc” viết về trung đoàn 83 công binh anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp vĩ đại của dân tộc. Sau này trung đoàn chuyển sang binh chủng Hải quân tham gia xây dựng những công trình ngoài quần đảo Trường sa, một số cán bộ chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ở đảo Gạc Ma. Phạm Trọng Thanh viết nhiều câu thơ khỏe khoắn, giầu hình ảnh: trập trùng núi cao vách dựng/ Cánh diều hâu huýt gió dạt mù mây/ Yên Bái – Gia Phù miên man đèo suối/ Đường chen cây không ngách vượt đèo/ Lối lách bàn chân ngón tòe người đốn củi/ Rừng của đại ngàn đá là ngai của núi…Chim ngói gật gù chim sẻ gọi/ Hương quế hương hồi phiên chợ núi xòe ô/ Những người lính trung đoàn Tám Ba/ Lắng nghe lòng người tùng dinh mở hội/ Đêm lửa trại miền cao chúm chím những môi đào
Bài thơ dài thứ hai có tên là “Thư gửi Xô Ny”, tác giả viết về những người lính tình nguyện hành quân sang Căm-pu-chia giúp nước bạn thoát khỏi nạn diệt chủng, có những câu thơ da diết, ấn tượng: Kỳ vĩ Ăng-co những thế kỷ vàng/ trăng dát Hoàng Cung đền đài thức ngủ/ Những đôi tay giầu có quyền năng/ tạc lộng lẫy tình yêu trên ngực đá/ Dọc lối hoa bay vương quốc phù điêu/ Gương mặt Bay-on hồn nhiên tĩnh tọa…Một đất nước vốn sinh ra đã được sống trong thanh bình, hàng ngàn năm tắm trong bầu khí quyển nghệ thuật Phật giáo như thế, có ngờ đâu đến một ngày lại chịu một tấn bi kịch khủng khiếp vào bậc nhất của loài người: chúng bỏ lại dưới mặt trời gay gắt/ những giếng rợn xương người/ những bãi thải đầu lâu người lăn lóc/ Nhân loại đau muôn thuở nỗi đau này/ Họa diệt chủng tiếng cười gằn quái vật/ Thời đồ tể nghênh ngang bạo quyền…

Phạm Trọng Thanh quê ở Xuân Trường – Nam Định. Từ thuở thiếu thời cái chất liệu dân gian miền đồng bằng Bắc bộ đã thấm sâu vào tâm hồn ông. Trong tập thơ này, dù viết về sự khốc liệt, mất mát của chiến tranh, nhưng vẫn có những câu thơ lục bát thấm đượm hồn dân ca, như trong bài “Hát mụa làng ta” viết về những người lính ra đi cầm súng từ một ngôi làng ở tỉnh Hà Nam: Tình rằng hát mụa làng ta/ Mặn nồng thương hết chia xa nhỡ nhàng/ Trông trời mà ngẫm nhân gian/ Lỡ duyên xuống biển lên ngàn vì ai/ Đâu nào mắt biếc giêng hai/ Em đi gánh nước trăng cài bờ ao/ Vườn chè bóng trúc hoa sao/ Chợ quê chúm chím chỉ đào áo nâu…Bạn nằm vuốt mắt mưa mau/ Cửa rừng võng khép nghiêng tàu lá xanh/ Ngày về tắt lửa chiến tranh/ Thả đàn mây trắng chạy quanh Cổng Trời.
Trong tập tác giả viết về ba vị tướng anh hùng: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Huy Hiệu, Hoàng Kiền. Với tướng Giáp, mở đầu bài thơ tác giả nói về nơi an nghỉ cuối cùng của ông với những câu thơ thật trang trọng nhưng cũng rất gần gũi, hợp với tính cách của người anh cả của quân đội: Người lính trẻ vừa thay phiên trực/ Núi Thọ mây dàn hoàng hôn/  Đảo Yến choàng khăn sương biển/ Vũng Chùa bình yên khép cánh chim chiều…Ông viết về Thiếu tướng Hoàng Kiền hai bài: “Vị tướng và những khoảng cách” mô tả cuộc đời chiến đấu và công tác của vị tướng; còn bài “Thăm bảo tàng đồng quê” viết về một công việc hữu ích của gia đình vị tướng, với những vần thơ lục bát thấm đẫm hồn quê và khá ngộ nghĩnh: Gầu dai treo cạnh gầu sòng/ Cái lờ cái vó lòng vòng lưới nơm/ Cối xay cối giã nùn rơm/ Chum sành bị cói còn thơm lúa mùa…Sân phơi trục lúa ruộng vàn/ Bát xứ tình phụ bát đàn tròn xoay/ Thị Mầu mẹ Đốp lão Say/ Ông Hương ông Lý loay hoay đếm tiền… Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu thì tác giả không mô tả trực diện vào những trần đánh mà nói về một sự kiện đầy ý nghĩa: sau chiến tranh, Nguyễn Huy Hiệu được nhà nước cho đi thăm đất Phật - Ấn Độ. Một đại đức tặng vị tướng ba cây bồ đề. Ông mang về trồng một cây ở nghĩa trang liệt sĩ đường 9, một cây ở nghĩa trang liệt sĩ Hải Long quê hương và một cây trồng trong khuôn viên quân đoàn, nơi vị tướng từng giữ cương vị tư lệnh. Tác giả viết về tướng Hiệu với những câu thơ có hơi hướng thiền: Bốt-gay-a rừng thiền miền cổ tích/ Một người phương Đông thức ngộ dọc hành trình/ Giặt áo trận trên dòng sông rực lửa/ Nhận cây thiêng miền đất Phật ân tình
Còn khá nhiều địa danh, địa chỉ gắn với tên tuổi những anh hùng – liệt sĩ trong tập thơ như: Đèo An Khê gắn với tên tuổi danh nhân Tăng Bạt Hổ, Côn Đảo gắn với tên tuổi nhiều anh hùng liệt sĩ, trong đó có anh hùng – liệt sĩ Võ Thị Sáu,Chiến khu rừng Sác với chiến công vang dội của những chiến sĩ đăc công nước,Côi Sơn gắn với những nữ thanh niên xung phong ở Thái Bình…và các bài thơ “Nhớ một người đi” viết về nhà thơ – liệt sĩ Nguyễn Mỹ, “Bên kia đỉnh dốc” viết về nhà thơ Thu Bồn những năm tháng ở chiến trường miền đông nam bộ, hay bài “Người đi bên những vì sao chân đất” viết về thầy giáo Bùi Nguyên Khiết hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979, “Cha nhìn sao bánh lái” viết về liệt sĩ Hải quân Phạm Gia Thiều, thuyền phó tàu HQ 604 hy sinh ở đảo Gạc Ma tháng 4 năm 1988, “Tiếng vĩ cầm không ngủ” viết về vụ thảm sát của các đơn vị lính Mỹ tại Mỹ Lai (Quảng Ngãi), ngày 16/3/1968 khiến 504 dân thường thiệt mạng…
Bài nào tác giả cũng viết bằng cảm xúc cung kính, cảm phục và yêu thương. Trong cuộc đời cầm bút, Phạm Trọng Thanh đã xuất bản tới 7 tập thơ, 1 tập tiểu luận văn học và tham gia biên soạn hàng chục đầu sách, vào cái tuổi bảy mươi, khi mà sức khỏe đã suy giảm, ông vẫn cất công đi đến những nơi có liên quan đến những người anh hùng – liệt sĩ để sáng tạo nên tập thơ “Đêm gọi dậy sao trời” coi như một nén tâm hương tri ân của một nhà thơ  cựu chiến binh với những con người mà ông yêu mến và cảm phục. Đó là một cách ứng xử mang giá trị rất nhân văn của một cây bút.

Hà Nội, tiết Giáng sinh 2018

                                                                       Nhà văn – Lê Hoài Nam

 

Chia sẻ:

Bình chọn: (0 Lượt bình chọn)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin khác