ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG, AN NINH, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

(ĐTTA) - Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh (CNQP,AN) là chủ trương chiến lược của Đảngvà nhà nước ta, "... nhiệm vụ cơ bản, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân…" . CNQP, AN là một bộ phận của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của thực lực và tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, chăm lo xây dựng, phát triển ngang tầm với vị trí, vai trò và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG, AN NINH, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Thượng tướng Bế Xuân Trường - Ủy viên Trung ương Đảng Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trương Bộ Quốc phòng

Xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh "tiên tiến, hiện đại"

Trong những năm qua, trên cơ sở quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính phủ về xây dựng, phát triển CNQP, AN, CNQP Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo bước phát triển mới trong những năm tiếp theo. Nghị quyết Trung ­ương 8 khóa IX về: "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", Đảng ta nhấn mạnh: "Đầu tư­ thích đáng cho việc xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, trang bị vũ khí, kỹ thuật hiện đại cho quân đội, công an tận dụng công nghiệp dân sinh, phục vụ quốc phòng"[1]. Đây là giải pháp, định hướng cho quá trình xây dựng và phát triển; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước và của nền kinh tế quốc dân để xây dựng nền CNQP, AN tự chủ, tìm ra những giải pháp có tính đột phá để huy động tổng hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế phục vụ cho mục tiêu phát triển khoa học kỹ thuật-công nghệ quân sự và CNQP, AN; chuẩn bị chu đáo, đồng bộ các hoạt động phát triển, bảo đảm đủ các yếu tố vật chất, tinh thần, tiềm lực mọi mặt phục vụ cho xây dựng và phát triển bền vững các nhà máy, xí nghiệp sản xuất hàng CNQP, AN. Nghị quyết 27-NQ/TƯ ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã chỉ rõ: "công nghiệp quốc phòng, an ninh phải đáp ứng yêu cầu của chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật có chất lượng cao và ngày càng hiện đại cho các lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Xây dựng và phát triển CNQP, AN thành bộ phận cấu thành quan trọng của tiềm lực quốc phòng, an ninh; đồng thời tạo thành một bộ phận quan trọng trong nền công nghiệp quốc gia trước mắt và lâu dài"[2]. Có thể nói, đây là một trong những quan điểm và cách nhìn mới của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền CNQP, AN thời kỳ mới. Đến Đại hội lần thứ X, Đảng ta xác định: "Tiếp tục sắp xếp và nâng cao khả năng bảo đảm của CNQP, AN; tập trung đầu tư vào những khâu đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh mà công nghiệp dân sinh không có khả năng bảo đảm. Mở rộng phương thức huy động vốn xây dựng CNQP, ANCó chính sách khuyến khích các nhà máy công nghiệp quốc phòng sản xuất các sản phẩm dân dụng để tăng thêm năng lực phát triển"[3]. Đây vừa là quan điểm, vừa là định h­ướng rất cơ bản có ý nghĩa quyết định đối với phát triển nền CNQP, AN nước ta thời kỳ hội nhập quốc tế. Đề án "Đẩy mạnh phát triển CNQP, AN, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" được Bộ Chính trị thông qua; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch xây dựng và phát triển CNQP, AN đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Đây là những văn bản có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng và phát triển CNQP, AN trong nhiều năm tiếp theo.

Những thành tựu về CNQP, AN mà Việt Nam đã đạt được trên chặng đường phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đặc biệt, những năm gần đây, Ngành CNQP có bước phát triển vượt bậc, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, đòi hỏi CNQP, AN phải phát triển mạnh hơn nữa để phục vụ cho quá trình hiện đại hóa các lực lượng vũ trang và tham gia công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thách thức và động lực để phát triển nền CNQP tiên tiến, hiện đại cũng có nhiều điểm tương đồng với những thách thức mà nền công nghiệp quốc gia và nền kinh tế quốc dân đang phải đối mặt, đó là: muốn thoát khỏi nguy cơ tụt hậu thì phải vượt qua "bẫy phát triển trung bình". Để làm được điều này, phải có quyết tâm chính trị cao, kiên định đường hướng chiến lược dài hạn và có nhiều giải pháp thực thi hiệu quả; trong đó, phải đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ, nhân lực và thể chế.

Về tiềm lực khoa học công nghệ. Trên thế giới, việc ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực khoa học công nghệ quân sự, CNQP đã được triển khai sớm hơn so với các lĩnh vực công nghiệp dân sinh khác. Việt Nam chúng ta cũng không phải là ngoại lệ. Để sẵn sàng đối phó thắng lợi với vũ khí công nghệ cao của địch trong chiến tranh tương lai, một yếu tố quan trọng là phải làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, tiên tiến, hiện đại. Theo đó, thời gian tới, chúng ta cần thực hiện một số nhiệm vụ trọng điểm mang tính đột phá, mũi nhọn để tiếp cận và làm chủ các ngành công nghệ mới liên quan tới chế tạo vũ khí cho các quân binh chủng.

Về nhân lực. Trong những năm gần đây, việc đầu tư cho xây dựng, phát triển nguồn lực CNQP, AN đã được quan tâm và có sự đột phá. Mặc dù, nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong CNQP, AN nước ta gia tăng về số lượng, ngành nghề chuyên môn, trình độ đào tạo,... nhưng vẫn còn thiếu những kỹ sư giỏi, chuyên gia đầu ngành và chưa có các tổng công trình sư trong những lĩnh vực vũ khí công nghệ cao. Công tác thu hút nhân tài vào làm việc trong CNQP chưa được như mong muốn. Đây sẽ là một điểm nghẽn cản trở quá trình làm chủ thiết kế - công nghệ liên quan tới vũ khí công nghệ cao và khả năng đóng góp của CNQP trong triển khai cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 ở nước ta. Để thực hiện tốt định hướng của Đảng, thời gian tới, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cần tập trung đổi mới mạnh mẽ các chế độ, chính sách có liên quan; trong đó, cần ưu tiên đồng bộ cả 2 yếu tố: đãi ngộ và trọng dụng nhân tài. 

Về thể chế. Trong cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, cùng với hiện đại hóa công nghệ của ngành CNQP, AN theo hướng tiên tiến, hiện đại, vấn đề quan trọng nữa là phải đổi mới về tư duy, cách nghĩ, cách làm, mà cụ thể và trực tiếp hơn là đổi mới về thể chế, bao gồm cả tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý, quy hoạch thế bố trí, tái cơ cấu, v.v. Phát huy kết quả đạt được, thời gian tới, chúng ta cần đẩy mạnh rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về CNQP theo hướng đổi mới, hội nhập, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, kết hợp liên ngành, tinh gọn bộ máy, cải cách hành chính, v.v. Các cơ chế chính sách phải bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả và không chồng chéo. Trong đó, cần sớm tổng kết việc thực hiện Pháp lệnh CNQP, AN (năm 2008) và Pháp lệnh Động viên công nghiệp (năm 2003). Trên cơ sở đó, nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật CNQP, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các bước phát triển lâu dài. 

Trong đường hướng chiến lược phát triển CNQP của bất kỳ quốc gia nào cũng đều chú trọng tới khả năng độc lập, tự chủ và giảm tối đa sự lệ thuộc vào nước ngoài. Điều này là hiển nhiên, bởi ngay trong điều kiện thời bình, trong khi lĩnh vực kinh tế dân sinh trên thế giới đang hướng theo dòng chủ đạo là toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại và "thế giới phẳng",... thì các mối quan hệ quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, an ninh cũng như các luật chơi trên thị trường mua bán vũ khí và công nghệ quân sự, CNQP, AN càng ngày càng bị áp đặt bởi nhiều chế tài đa phương và đơn phương về hạn chế, ngăn ngừa, kiểm soát, áp đặt trừng phạt, cấm vận, v.v. Nên khi có chiến tranh xảy ra thì bên phát động chiến tranh sẽ luôn tìm cách áp dụng mọi biện pháp bao vây, phong tỏa, cô lập, ngăn ngừa mọi nguồn cung cấp từ bên ngoài và tấn công hủy diệt tiềm lực CNQP của đối phương.

Tự lực, tự cường về CNQP, an ninh không có nghĩa là tự ràng buộc với mô hình khép kín, biệt lập, tự cung tự cấp. Trong bối cảnh hiện nay, tự lực, tự cường chỉ thực sự hiệu quả khi biết tranh thủ các cơ hội thuận lợi có thể nắm bắt được thông qua việc mở rộng hợp tác quốc tế và hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế về vũ khí và công nghệ quân sự. Điều đó cho phép ta chủ động lựa chọn đối tác cung cấp sản phẩm và công nghệ, giá cả, điều kiện hậu mãi, bảo hành, huấn luyện chuyên gia,... phù hợp với lợi ích và nhu cầu phát triển của CNQP, AN. 

Một giải pháp quan trọng khác để tăng cường khả năng tự lực, tự cường của CNQP, AN là phải đẩy mạnh kết hợp quốc phòng-an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng-an ninh, huy động có hiệu quả thành tựu của nền kinh tế quốc dân phục vụ sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật. Theo đó, cần lồng ghép nhiệm vụ xây dựng, phát triển CNQP, AN vào các đề án, chiến lược xây dựng, phát triển của các bộ, ngành, địa phương, nhất là các dự án liên doanh, liên kết với các cơ sở dân sinh hoặc đầu tư hỗ trợ các cơ sở dân sinh nhằm mục đích phục vụ công nghiệp quốc phòng. Nhu cầu đầu tư cho phát triển công nghiệp quốc phòng rất lớn. Vì vậy, bên cạnh phát huy hiệu quả nguồn ngân sách Nhà nước, cần tiếp tục đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho nhiệm vụ này, kể cả vốn đầu tư của nước ngoài và của các thành phần kinh tế trong nước. Ngoài ra, chú trọng khai thác có hiệu quả các tiềm năng lưỡng dụng để đáp ứng các yêu cầu của quốc phòng, an ninh và yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trước mắt, để thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển CNQP, an ninh đã được xác định trong Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Trung ương Công an, Bộ Công an tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện các chương trình, mục tiêu, đề án, dự án xây dựng, phát triển CNQP, an ninh theo Nghị quyết 06-NQ/TW, Quy hoạch xây dựng và phát triển CNQP, an ninh đến năm 2025, tầm nhìn năm 2035,... tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thượng tướng Bế Xuân Trường - Ủy viên Trung ương Đảng

Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trương Bộ Quốc phòng
 


[1] Nghị quyết Trung ­ương 8 khóa IX về "Chiến lư­ợc bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới". 

[2] Nghị quyết 27-NQ/TƯ ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr.228, 229.