Dưới cánh hoa ban rừng

Cuối xuân, đầu hè năm 1962, chúng tôi được lệnh hành quân sang nước bạn Lào chiến đấu. Mặt trận chúng tôi hướng tới là thị xã Luông Nậm Thà, một cứ điểm của địch đang kìm kẹp đồng bào, đa phần là người Lào Lùm.

Dưới cánh hoa ban rừng

Ảnh minh họa.

Từ tiền duyên mặt trận nói trên lùi lại hậu cứ 15km gặp địa danh Mường Sại là căn cứ tập kết quân lương của bộ đội ta. Nơi đây, hằng ngày máy bay của ta từ Điện Biên Phủ đem vũ khí, lương thực đến thả dù tiếp tế cho bộ đội đánh giặc. Ở cung đường chiến trận 15km ấy, vào hè chẳng những hai bên đường mà trên nhiều cánh rừng đều trắng xóa màu hoa ban. Sau khi lập trận địa hướng xuống cứ điểm địch, chúng tôi thay nhau người giữ trận địa phía trước, người về căn cứ phía sau tải gạo, vũ khí ra tiền duyên. Một lần, chúng tôi đang trên đường gùi gạo từ Mường Sại về tiền duyên, đến chân dốc, tranh thủ dưới gốc cây ban có tán rộng tỏa ra muôn vàn những cánh hoa trắng muốt trên đầu để "nghỉ mười phút" thì bắt gặp hai mẹ con người Lào, mẹ gùi quả đạn cối 82mm, con gùi quả đạn cối 60mm đi cùng hướng chúng tôi. Họ cũng dừng bước nghỉ chân. Một chiến sĩ biết tiếng Lào hỏi: "Tải đạn cho bộ đội Pathet ư?". Người mẹ trả lời: "Bộ đội Pathet hay bộ đội Việt Nam họ đều đang mong có đạn để đánh đuổi giặc mà!". Sau chục phút lấy lại sức, mẹ con họ cùng chúng tôi lại hăm hở trèo đèo, lội suối, luồn rừng tải quân lương ra mặt trận.

Trên cung đường hậu cứ mùa hoa ban khoe sắc ấy cũng là cung đường chúng tôi chuyển thương binh từ mặt trận về binh trạm cứu thương của ta. Phục vụ thương binh ngoài mặt trận, yêu cầu đặt ra là phải nhanh đưa những đồng đội bị thương về nơi cứu chữa an toàn. Phương tiện vận chuyển thương binh lúc ấy là cán bộ (hai chiến sĩ dùng tăng võng cáng một thương binh). Trên đường cáng thương binh về binh trạm, chúng tôi đi được hơn chục ki-lô-mét thì cơn sốt rét của tôi đùng đùng kéo đến. Mệt thay, cáng của hai chúng tôi đi sau cùng, cáng đồng đội đều đã dồn lên phía trước hết, không liên lạc được. Cơn sốt rét hành hạ tôi dữ hơn, buộc chúng tôi phải đặt cáng thương binh bên bìa rừng. Trong lúc ngặt nghèo như vậy, may mắn chúng tôi gặp được đôi vợ chồng trẻ người Lào đang làm nương cạnh đường đi tới. Sau giây phút ngơ ngác, chị vợ chỉ tay vào người thương binh rồi lại chỉ tay sang tôi hỏi bằng tiếng Việt giọng lơ lớ: "Bộ đội này bị đạn, bộ đội này ốm à?". Tôi gật đầu, chị quay sang nói gì với chồng. Rất nhanh, vợ chồng họ nhẹ nhàng đặt hai đầu đòn cáng thương lên vai mình đưa thương binh đi nốt đoạn đường còn lại về binh trạm. Sẩm tối, cả đoàn chúng tôi mới về tới binh trạm cứu thương.

Dưới những cánh hoa ban rừng trên nước bạn Lào đầu hè năm ấy đến nay đã ngót nghét 60 năm. Đó là một kỷ niệm khó phai mờ trong ký ức. Tôi nhận ra rằng, trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, cả hai dân tộc đã cùng chung một chiến hào đánh giặc, tạo nên mối tình gắn bó keo sơn, thủy chung, trong sáng đặc biệt Việt-Lào hôm nay.

Đinh Quang Huy