Khắc khoải 46 năm - nay thành hiện thực

Sau 46 năm tìm kiếm, hôm nay chúng tôi đã tìm đến đúng nơi đã từng chôn cất các anh và cùng nhân dân địa phương làm lễ truy điệu, đưa 21 liệt sĩ về nghĩa trang thị xã Quảng Trị - nơi Tổ quốc ghi công.

Khắc khoải 46 năm - nay thành hiện thực

Sau 46 năm tìm kiếm, hôm nay chúng tôi đã tìm đến đúng nơi đã từng chôn cất các anh và cùng nhân dân địa phương làm lễ truy điệu, đưa 21 liệt sĩ về nghĩa trang thị xã Quảng Trị - nơi Tổ quốc ghi công.

Đã hơn 12 giờ đêm rồi mà chuông điện thoại của tôi bỗng reo vang. Linh tính mách bảo tôi thường thì phải có chuyện gì đặc biệt lắm mới có người gọi mình vào giờ này. Lướt nhìn trên màn hình điện thoại tôi đã nhận ra ngay người gọi mình là cậu La ở mãi ngoài Ninh Bình gọi vào. Nghĩ trong đầu là "cậu" chứ thực ra anh La năm nay cũng ngoài 60 tuổi rồi, thành ông nội ông ngoại từ lâu rồi. Thế nhưng đời lính có cái lạ vậy. Mấy mươi năm qua đi rồi, đầu hai thứ tóc cả rồi mà mỗi khi gặp nhau vẫn ôm cổ, bá vai, mày mày, tao tao hệt như cái thời trai trẻ ở chiến trường…  

-       Có gì không mà gọi khuya vậy anh La ơi?

-       Anh em mình thu xếp về Quảng Trị tìm anh em đợt nữa chứ. Hơn 40 năm rồi, càng để lâu càng khó tìm.

-       Tôi cũng lên kế hoạch rồi. Bây giờ mới là tháng 10 năm 2016, ở Quảng Trị đang là mùa mưa, khu đất chôn cất anh em có khi nước ngập như ao hồ. Phải sang mùa xuân năm 2017 mới đi được.

Sau câu nói tôi nghe rõ cả tiếng La thở dài qua máy. Chúng tôi chẳng nói gì thêm nhưng qua trao đổi vài câu cũng đủ hiểu tâm nguyện của nhau rồi. Đã 45 năm trôi qua kể từ ngày 10 cán bộ chiến sĩ bổ sung về Đại đội 11 của tôi. Vừa về đơn vỉ lúc chập tối thì sáng sớm hôm sau địch tràn vào… Đến bây giờ chúng tôi vẫn chưa biết 10 người lính ấy tên gì, quê quán ở đâu. Liệu trong số 10 người đó có còn ai sống xót không? Từ sau ngày miền Nam được giải phóng đến nay, không biết bao nhiêu lần chúng tổi tổ chức cùng nhau về Quảng Trị tìm kiến phần mộ của các anh mà vẫn vô vọng…

Cuộc chiến giữ Thành cổ Quảng Trị và ngăn chặn địch lấn chiếm vùng giải phóng thật khốc liệt vô cùng. Sáu Sư đoàn chủ lực và tám Quân, Binh chủng lần lượt thay nhau giành giữ từng tấc đất của tỉnh Quảng Trị vừa được giải phóng, quyết không cho địch vượt sang bờ Bắc sông Thạch Hãn. Sư đoàn 312 được đảm nhận chốt giữ từ Động Tiên, Động Ông Do, Khe Trai, Đá Đứng, Như Lệ, Tích Tường tới đầu cầu sắt thị xã Quảng Trị, trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 1972 đến tháng 4 năm 1973. Việc chiến đấu trong thế phòng ngự giữ đất suốt 9 tháng trời là câu chuyện viết cả ngàn trang không hết. Tôi chỉ xin kể về một trong nhiều trường hợp hy sinh mất mát của Đại đội 11 do mình phụ trách.

Để chuẩn bị đánh địch tái chiếm làng Như Lệ, tôi được Tiểu đoàn báo lên nhận quân bổ sung. Khoảng 5 giờ chiều ngày 1/8/1972, bầu trời Quảng Trị đã hơi âm u, những đám mây sà xuống các thung lũng như thể sương mù. Bởi vậy tôi mạnh dạn đi trên những thửa ruộng trống để đến khu vực đóng quân của Tiểu đoàn mà không cần ngụy trang.

Đồng chí Phiên, Chính trị viên phó Tiểu đoàn đưa cho tôi tờ giấy và nói:

-       Đại đội 11 lần này được bổ sung 10 đồng chí, trong đó có một đồng chí là Trung đội Trưởng, còn lại là tân binh từ Quân khu 3 đưa vào. Đây là danh sách "trích ngang" của các đồng chí ấy.

Tôi dẫn anh em tới một con suối cạn, đi theo lòng suối và chỉ 2 người vào một hầm. Hầm được đào khoét vào bờ suối như kiểu hàm ếch và dặn: "Các đồng chí cứ ngủ nghỉ cho lại sức, sáng mai nhận nhiệm vụ mới". Xong xuôi tôi về hầm của mình.

Khu đóng quân của Đại đội bộ ở trên một sườn đồi cách nơi ở của các đồng chí tân binh khoảng 400 mét nhưng chỉ cách quả đồi trước mặt chừng 300 mét. Quân số lúc này chỉ có tôi, đồng chí La -  Chiến sĩ B41, đồng chí Hồng - Liên lạc, đồng chí Cơi - Quản lý, đồng chí Hợp - Y tá và đồng chí Nà - Anh nuôi. Sau một đêm với những giấc ngủ chập chờn, khoảng 5 giờ sáng, đồng chí Nà đến kéo tôi dậy, nói với giọng hốt hoảng.

-       Chính trị viên ơi! Em nghe như có bộ đội nói tiếng Miền Nam ở quả đồi trước mặt.

-       Chết thật! Ở đây làm gì có đơn vị Quân giải phóng nào. Có lẽ bọn địch tối qua nó lẻn vào chiếm đất đấy.

Quan sát ít phút chúng tôi khảng định, bọn người đang đứng lố nhố ở quả đồi trước mặt là bọn lính ngụy. Trời sáng mất rồi, trở tay không kịp nữa. Không còn cách nào bắt liên lạc với các trung đội đang nằm ngay trong tầm mắt địch. Không có đường dây thông tin báo về Tiểu đoàn. Cả khối đại đội bộ chỉ còn một khẩu B41, một khẩu AK với 2 băng đạn và một khẩu súng ngắn của tôi. Ai mà ngờ được tình huống địch luồn sâu vào giữa đội hình đóng quân của Tiểu đoàn trong đêm tối. Chắc chắn chỉ có lý do là địch không thể ngờ có một Tiểu đoàn "Việt cộng" ở quanh đây. Nhưng bây giờ lại là ban ngày rồi. Là khoảng thời gian hoàn toàn có lợi thế cho địch vì chúng chỉ cần ngồi ở vị trí cao quan sát, khi phát hiện đối phương thì chỉ điểm cho máy bay, pháo hạm bắn phá như đổ bom đạn vào đối phương. Lúc này chỉ cần một hành động lộ liễu thì ngay lập tức hàng ngàn quả đại bác sẽ trút lên đầu chúng tôi. Trước tình huống này tôi đã lệnh cho mọi người phải giữ bí mật đến cùng. Chỉ khi địch tấn công trực tiếp vào đội hình ta thì mới được nổ súng, quyết chiến đấu tới cùng…

Hướng các đồng chí tân binh đang ở dọc bờ suối thì không ai có thể phát hiện địch đang ở đỉnh đồi. Đã lác đác có vài đồng chí xuất hiện trên đám ruộng khô. Thật là "Lậy ông tôi ở bụi này". Nhìn các đồng chí của mình đi lại vô tư trong khi chỉ cách địch vài trăm mét mà lòng tôi thắt lại. Các đồng chí xuất hiện mỗi lúc một đông và ngay lập tức một trận mưa pháo ập tới. Đại đội 12 ở bên cạnh Trung đội tân binh cũng nằm trong mịt mù khói pháo. Khoảng 8 giờ, vừa có ánh nắng rõ thì từng đoàn máy bay phản lực thay nhau đến trút bom. Một vùng đất rộng chừng 1ha có cây xanh lúp súp, chỉ sau 2 tiếng đồng hồ đã chi chit hố bom, hố pháo, không còn một thân cây, ngọn cỏ nào đứng yên…Sau khi đã san bằng các gốc cây, ụ đất bọn địch liền đổ quân tràn vào khu vực Đại đội 12.  

Đêm hôm ấy ta phải dùng 2 xe tăng và 1 Đại đội bộ binh để đánh chiếm lấy lại quả đồi.

Ngày hôm sau tôi, anh La, cậu Hợp cùng mấy chiến sĩ trở lại con suối cạn tìm mãi mới được 6 thi thể. Điều đau lòng hơn là các đồng chí hy sinh toàn là lính mới. Chúng tôi không thể nhận ra và phân biệt được đây là thi thể của ai?. Chúng tôi đưa anh em tới khu đất đã có sẵn khoảng 20 mộ chí chắc mới chôn được vài ngày, Thế mà đã có những mộ bị bom pháo đào lên, thịt xương anh em văng ra hàng trăm mảnh. Lại có một cáng tử sĩ còn nằm nguyên trong võng và bên cạng có 2 người chết chưa được khâm niệm. Chúng tôi hiểu ngay là khi hai đồng chí này khiêng tử sĩ tới đây chưa kịp chôn thì đã bị pháo địch bắn hy sinh. Vậy là chúng tôi lại phải đào tới 9 cái huyện để chôn 9 đồng chí mình. Rồi lại đi nhặt xương thịt của các đồng chí bị bom đạn cày xới đưa về lỗ huyệt chôn lại.

Thời làm lính trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu của tôi không nhiều nên bao nhiêu cán bộ, chiến sỹ trong đơn vị hy sinh tôi đều nhớ cả. Chỉ có điều tôi day dứt nhất là 9 đồng chí tân binh và 1 cán bộ Trung đội do tôi đón về Đại đội hôm mồng 1 tháng 8 năm 1972 tên là gì, quê quán ở đâu, cha mẹ người thân của họ là ai, liệu có còn đồng chí nào sống sót không?.

Mùa xuân năm 2017, đúng như lời hẹn với anh La, tôi lại khăn gói lên đường về làng Như Lệ tìm mộ đồng đội. Qua hàng chục lần tìm kiếm không thấy, lần này tôi yêu cầu các đồng chí cán bộ địa phương đưa tôi lên đỉnh quả dồi xưa địch chiếm để quan sát. Từ trên đỉnh đồi tôi nhận thấy vị trí quả đồi C12 đóng quân năm xưa sao nay lại thấp xuống một cách kỳ lạ và đã có dân đến ở thành một thông làng. Hỏi cán bộ địa phương tôi mới biết khoảng những năm 1980 địa phương đã khai thác đất đá của quả đồi này để đắp đập ngăn sông Thạch Hãn và làm mương nổi dẫn nước vào đồng ruộng. Một sự thay đổi địa hình đơn giản vậy mà làm chúng tôi mất 45 năm đi tìm đồng đội không thấy.

Khi đã nhận ra địa hình địa vật thì tôi lập tức nhận ra khu nghĩa trang đã chôn cất các liệt sĩ. Những ngày tiếp theo tôi cùng cán bộ địa phương báo về Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị.

Giữa tháng 3 năm 2018 và cũng là những ngày mùa xuân tươi đẹp nhất, Đội quy tập HCLS của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị đã cùng nhân dân địa phương khai quật và tìm kiến được 21 liệt sĩ sau 46 năm đi tìm kiến các anh.

Như đã hẹn trước, tôi từ TP.HCM bay ra, Anh La và anh Hạnh từ Ninh Bình đi xe đò vào. Sau 46 năm tìm kiến, hôm nay chúng tôi đã tìm đến đúng nơi đã từng chôn cất các anh và cùng nhân dân địa phương làm lễ truy điệu, đưa các anh về nghĩa trang thị xã Quảng Trị - nơi Tổ quốc ghi công.

Trịnh Duy Sơn