Những tấm lòng thơm thảo

Những tấm lòng thơm thảo

Người viết những dòng tâm sự này là Đặng Viết Quý, một thanh niên "có một tấm lòng thơm thảo", nhiều năm lặn lội đi tìm người cậu ruột của mình - Liệt sỹ Nguyễn Văn Sơn. Bà ngoại Quý sinh hạ ra bốn chị em, liệt sỹ Nguyễn Văn Sơn là con út, khi hy sinh chưa có gia đình riêng. Quý trở thành người cháu mang trọn trách nhiệm của hai họ nội - ngoại. Tấm lòng của Quý đối với cậu ruột Nguyễn Văn Sơn thật đáng trân trọng.

Trên hành trình đi tìm mộ người cậu là liệt sỹ Nguyễn Văn Sơn, Quý đã "kết bạn", làm quen với những người đồng cảnh - cùng đi tìm thân nhân là liệt sỹ, những người cựu chiến binh đi tìm đồng đội, những người đồng đội cũ của cậu mình... Giữa họ có mối thâm giao và đã trở thành những người thân yêu như ruột thịt, như: Soc Nhím, Đoàn Bắc, Cửu Long... Đặc biệt, Đặng Viết Quý vô cùng kính trọng ông Nguyễn Viết Bình, một cựu chiến binh thuộc đơn vị C5D8E31 (Quảng Nam)... Cuộc sống của vị đại úy khi sau khi xuất ngũ hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do bị thương tích, bệnh tật (hậu quả của chiến tranh), ông sinh năm 1942, đang rất đau yếu, đi lại phụ thuộc vào xe lăn, sống nhờ vào thuốc. Người cựu chiến binh Đặng Viết Bình đang rất cần sự giúp đỡ của mọi người. Số điện thoại của ông Nguyễn Viết Bình: 098 430 2508.

Tạp chí điện tử Tri Ân trân trọng giới thiệu bài viết của bạn Đặng Viết Quý. Tiêu đề bài do Tòa soạn đặt.

***

Trong suốt thời gian tôi đi tìm mộ cậu, cũng như đi tìm những đồng đội, người cùng chung chiến hào, trận địa với cậu, ai còn, ai mất, tôi gặp mặt không biết bao nhiêu cựu chiến binh. Người gây cho tôi ấn tượng nhiều nhất là bác Nguyễn Viết Bình - thương binh 3/4. Khi tôi gọi điện cho bác, bác hỏi tôi quan hệ thế nào với liệt sĩ, họ nội của liệt sĩ đâu mà không tìm? Hòa bình đã lâu sao gia đình bây giờ mới đi tìm? Tôi trả lời bác: trước đây kinh tế gia đình khó khăn; cháu còn nhỏ; thông tin,tin tức không có; biết đâu mà tìm...

Sau đó, bác kể rằng, cả cuộc đời của bác gắn liền với núi, với biển. Bác sinh ra ở thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1945, toàn quốc kháng chiến, gia đình bác chuyển lên Thái Nguyên. Học xong lớp 10 trường Lương Ngọc Quyến, bác theo học trường Đại học Hàng hải (TP Hải Phòng). Ra trường, bác công tác tại Nhà máy Đóng tàu Hải Phòng được hai năm, rồi được gọi lên đường nhập ngũ ngày 3/5/1965. Huấn luyện xong, bác đi B, vào nam chiến đấu. Đầu năm 1966, vào tới Quảng Nam, bác được biên chế vào đơn vị c5d8e31. Hai năm sau, bác được cất nhắc lên làm Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn rồi làm cán bộ phòng Quân lực. Sau đó bác lại được điều xuống các tiểu đoàn, trực tiếp tham gia chiến đấu.

Trong suốt mười năm chiến đấu, bác tham gia hàng mấy chục trận đánh lớn nhỏ. Cuộc chiến thật ác liệt và tàn khốc. Ta và địch giành nhau từng tấc đất. Các bác, xác định không có ngày về, cứ đêm đến trước khi công đồn, đánh bốt họ lại dặn dò nhau quyết tâm chiến đấu dù có phải hy sinh. Bác bị thương trên dưới chục lần, nhưng vẫn còn may mắn hơn các đồng đội của mình, họ đã anh dũng hy sinh. Máu và nước mắt những người lính đã hòa tan vào trong lòng đất. Một số người còn sống sót trở về, người thì mất cánh tay, đôi chân, người không còn đôi mắt... Một phần cơ thể của họ đã để lại ở chiến trường. Hòa bình, độc lập và sự đổi mới của đất nước có được như ngày hôm nay, bác không quên được các công lao và sự hy sinh của đồng đội mình. Sự mất mát hy sinh đó hòa vào trong biết bao sự hy sinh của toàn thể đồng bào, đồng chí của cả nước.

Sau ngày thống nhất đất nước, bác về công tác tại nhà máy đóng tàu Quân khu 5, ở Đà Nẵng. Năm 1988, bác về hưu mang quân hàm Đại úy, trở về sinh sống tại thị trấn Phú Lương, Thái Nguyên. Nay bác tuổi cao sức yếu bị chất độc màu da cam, vết thương hành hạ, hàng ngày bác phải ngồi trên xe lăn, sống nhờ vào thuốc. Tôi cảm ơn bác, bác nói: "Không có gì cảm ơn, nếu như bác không may hy sinh, nếu như cậu cháu còn sống, con cháu bác cũng tìm đến sự giúp đỡ của cậu cháu". Chính vì câu nói của bác đã thôi thúc tôi tiếp tục đi tìm mộ của cậu.

Đặng Viết Quý