Những trang nhật ký xúc động ( Bài 5)

"Chiến tranh đã lùi về phía sau 30 năm, vết thương đạn bom đã mờ dần, đất nước đã chuyển mình lớn mạnh hơn rất nhiều. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn chúng ta, những người lính một thời đã vào sinh ra tử thì còn nguyên vẹn những kí ức một thời trận mạc." Đó là những lời tâm huyết của CCB Bùi Thế Lâm, chiến sĩ tiểu đoàn 15, sư đoàn 2, tác chiến tại Đông bắc Campuchia . Hiện CCB Bùi Thế Lâm là Giám đốc Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng TP. Hải Phòng. Trở về hậu phương, cuộc sống bộn bề chung riêng, nhưng người CCB Sư đoàn 2 vẫn đau đáu nhớ về những miền đất, những tháng năm cùng đồng đội, bên chiến hào, gian nan đánh giặc… thôi thúc anh cầm bút. Tạp chí Điện tử Tri Ân (Trian.vn) xin trân trọng giới thiệu những trang "Nhật ký tìm đồng đội" (Bài 5) của CCB Bùi Thế Lâm.

Những trang nhật ký xúc động ( Bài 5)

"Chiến tranh đã lùi về phía sau 30 năm, vết thương đạn bom đã mờ dần, đất nước đã chuyển mình lớn mạnh hơn rất nhiều. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn chúng ta, những người lính một thời đã vào sinh ra tử thì còn nguyên vẹn những kí ức một thời trận mạc." Đó là những lời tâm huyết của CCB Bùi Thế Lâm, chiến sĩ tiểu đoàn 15, sư đoàn 2, tác chiến tại Đông bắc Campuchia . Hiện CCB Bùi Thế Lâm là Giám đốc Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng TP. Hải Phòng. Trở về hậu phương, cuộc sống bộn bề chung riêng, nhưng người CCB Sư đoàn 2 vẫn đau đáu nhớ về những miền đất, những tháng năm cùng đồng đội, bên chiến hào, gian nan đánh giặc… thôi thúc anh cầm bút. Tạp chí Điện tử Tri Ân (Trian.vn) xin trân trọng giới thiệu những trang "Nhật ký tìm đồng đội" (Bài 5) của CCB Bùi Thế Lâm.

 

Vị trí nghĩa trang Liệt sĩ Ia Grai, tỉnh Gia Lai (ảnh vệ tinh). Nơi Bùi Thế Lâm và đồng đội đi tìm liệt sĩ Quân

Chủ nhật, ngày 6 tháng 9 năm 2009

Tôi  cùng anh em đến nhà Quân và mấy đồng đội hy sinh để thắp hương cầu mong cho chuyến đi được nhiều thuận lợi.

Chuyến đi sẽ bắt đầu khởi hành từ 9:30 phút ngày 8 tháng 9 năm 2009 tại bến Tam Bạc. Ba vé đã được tôi đăng kí và mua trước.

Thứ hai, ngày 7 tháng 9 năm 2009

Mọi thứ giấy tờ cần thiết cho chuyến đi đã hoàn tất. Tôi kiểm tra kĩ lưỡng tất cả các việc đã làm và chuẩn bị phải làm rồi cẩn thận ghi ra một mảnh giấy và liên lạc với các em của bạn tôi. Tôi thuyết phục cái chín và cái Yên là hai chị em chỉ nên đi một người, còn một người ở nhà để lo công việc kết hợp cùng địa phương tổ chức lễ đón nhận hài cốt liệt sĩ nhưng cả hai đứa không đứa nào chịu ở nhà.

  - Thôi thì đi hết vậy, tôi kết luận.

Anh Thanh gọi điện cho tôi lên cơ quan. Tôi không hiểu anh gọi lên để làm gì, thì ra, anh dúi cho tôi ít tiền và nói:

 - Đây là tình cảm và tấm lòng của tớ thôi. Cậu tạm ứng thêm một ít tiền nữa mà đi, tớ báo tài vụ rồi, đây là giấy công tác tớ kí sẵn rồi.Yên tâm mà đi, cố gắng nhé. Mắt tôi cay xè. Chỉ có người lính mới nặng lòng như thế.

Anh em các đơn vị cơ sở của địa phương cũng lên và gửii cho tôi ít lộ phí đi đường. Thực ra, tôi rất ngại vì cơ quan tôi đang gặp rất nhiều khó khăn, hơn nữa đây là công việc riêng không hề liên quan tới đơn vị nhưng tôi không thể từ chối vì: "Chút tiền nhỏ này là tấm lòng của anh em, gọi là có nén hương, ngọn nến cho  các liệt sĩ mà thôi..." thì làm sao tôi từ chối được.

Đồng đội tôi cũng người nhiều người ít gom góp cho tôi mong chuyến đi tốt đep. Ngay cả anh Sơn toác xê 2 tận ngoài đảo Bạch Long vĩ cũng gọi điện về và không quên gửi " giọt dầu cho anh em mình ngoài nghĩa trang Lâm ơi, lính là thế em quên rồi sao".

Điện thoại tôi réo liên tục, toàn đồng đội tôi gọi cả, thì ra mọi người, kẻ trong nam, người miền trung đều biết về chuyến đi của tôi và các em, thậm chí còn nắm được cả ngày giờ xuất phát. Thì ra, anh em liên lạc và thông tin cho nhau cả rồi. Tất cả đều lo lắng cho chuyến đi và hỏi thăm, dặn dò chu đáo nhưng tất cả đều rất vui về việc làm của chúng tôi. Tâm trạng của tôi hình như giống ngày nhập ngũ.

  Tôi liên lạc với anh Tôn và thông báo lộ trình chuyến đi để trong Tây nguyên anh cũng chuẩn bị.

  Hành trang của chuyến đi đã được nhà tôi và các cháu chuẩn bị kĩ càng. Con Mickey còn viết lên bảng học của cháu: " những vật dụng cần chuẩn bị cho bố" rồi gạch đầu dòng chi tiết khoa học từ lọ dầu đễn cái máy ảnh...Vợ tôi không quên mua it quà biển để làm quà và sáng kiến:

  -Anh chịu khó mang theo bình  rượu ngâm này cho anh Tôn, em phải tìm mãi mới mua được cái bị để đựng cho chắc chắn (bình rượu ngâm bào ngư đến 5, 6 năm rồi do cậu trưởng rạp cho mà tôi để dành). Còn đây là hộp lương khô quân nhu, em nhờ người mua để anh ăn đường khi cần thiết…

Cơm nước tối xong, tôi đi ngủ sớm.

Thứ ba, ngày 8 tháng 9 năm 2009

9:30 phút, xe rời bến. Ba anh em chúng tôi lên đường.

Chiếc xe ô tô của hãng Hoàng Long có giường nằm, máy lạnh, được tôi chọn đi kể ra vé có đắt một chút nhưng đảm bảo sức khỏe của hành trình tôi dự kiến là năm ngày.

Xe xuôi về hướng nam, tự nhiên cái cảm giác của chuyến tầu quân sự chở đoàn chiến sĩ mới vào mặt trận ùa về. Tôi nằm úp mặt vào kính của ô tô, nhìn ra đường và hồi tưởng lại. 31 năm về trước, chúng tôi, những chàng trai trẻ hừng hực nhựa sống như những nụ những lộc của cành đào xuân ưỡn ngực tạm biệt quê hương và tổ quốc ra trận... và bây giờ, tôi âm thầm nằm miên man kí ức trên chặng đường đó để đi mang bạn về với quê mẹ.

Hai đứa em của bạn tôi nằm giường kế bên ríu rít đủ trò, chắc chắn chúng không hiểu được tâm trạng của tôi.

Gọi là em của bạn tôi, nghĩ rằng chúng còn bé bỏng lắm nhưng cái Chín cũng đã gần 50 tuổi và lên chức bà ngoại từ mấy năm rồi. Kể ra cũng bé bỏng thôi vì khi Quân hy sinh thì nó còn trẻ lắm, cái Yên thì còn bé nữa và vì người anh của chúng ra đi mãi mãi ở tuổi 22.

Từ hôm gặp các em bên nhà anh Trộn thì tôi là anh Quân của chúng, cũng chính vì thế mà nhiều khi chúng cũng nũng nịu. Cả cái Yên và cái Chín đều chịu khó hay lam hay làm nuôi dậy các cháu không lớn trưởng thành. Các cháu con của em Yên học rất giỏi. Là con gái nông thôn nhưng các em cũng chu đáo lắm. Hôm thư bảy vừa rồi, các em cùng sang thăm ông bà cả hai bên nội ngoại của tôi và không quên thắp hương lên ban thờ cầu nguyện xin cho anh em chúng tôi chuyến đi thuận buồm xuôi gió.

Nằm trên xe được một lúc thì hai đứa phải chui xuống sàn xe và lần ra chỗ bác tài ngồi buôn chuyện vì bị say xe. Tôi  thì nằm dán mình trên giường, chỉ những lúc nào xe dừng thì tranh thủ xuống  làm mấy hơi thuốc lá rồi lại tót lên giường của mình.

Dọc đường, các thị xã thị trấn nhà cửa san sát, khác hẳn những năm sau chiến tranh.

Miền Trung dài dằng dặc, đúng thật. Rồi Huế lùi lại phía sau. Lăng Cô đây, đẹp quá. Vượt qua hầm đèo Hải Vân thì trời mưa to, xe phải đi chậm lại vì thỉnh thoảng lại gặp cung đường xấu lụt lội.

Từ đèo Ngang, bắc miền Trung đến đèo Hải Vân đã dài, đường dọc trung Trung bộ cũng dài không kém. Thỉnh thoảng thấy bên núi, bên biển, những tràng cát dài. Chỉ thấy nhiều phi lao, cây sắn, là những loài cây gắn với mọi vùng đất nghèo luôn xanh tốt.

10:00 xe đến Quy nhơn.

Tôi vào bến xe mua vé đi Gia lai.

Từ ngã ba Diêu trì đến Pleiku đâu khoảng 160 km. Tôi nhẩm tính và thoáng lo lắng vì sợ lệch so với kế hoạch đã dự tính.

Xe lên Gia Lai chật cứng người. Giời bắt đầu mưa to, nhưng xe chạy khá nhanh. Qua khỏi ngã ba cầu Bà Di, xe rẽ vào đường 19. Mặc cho mưa trút, lòng tôi rộn lên những kỷ niệm dồn dập, chen nhau trở về gắn với tôi rất nhiều kỉ niệm hơn ba mươi năm về trước.

Tôi nhoài người ra phía trước để ngắm con đường qua gạt nước của ô tô. Đồi núi cao nguyên bắt đầu hiện lên, ngày càng hiểm trở. Bên cạnh tôi, hai  em gái thút thít khóc làm mọi người trên xe để ý đến anh em chúng tôi.

- Anh Quân ơi, anh nằm chỗ nào giữa núi rừng ngút ngàn này. Anh có biết chúng em cùng với anh Lâm đang đến với anh không. Anh Lâm ơi, sao mãi chẳng đến chỗ anh em nằm... cái Yên níu chặt vào cánh tay tôi vừa khóc vừa nói.

Tôi biết trước thế nào cũng có "đoạn" này nên cũng chẳng dỗ dành gì hết, kệ cho chúng nó khóc để nhẹ nỗi lòng có khi lại hay vì chẳng thấy đứa nào say xe nữa.

Xe đến đèo An khê, tôi không còn định dạng nổi, bởi sự thay đổi quang cảnh của khu vực này sau gần một phần ba thế kỉ qua đi. Thị trấn An Khê ngày xưa với vài cái nhà cùng với cái bưu điện dặt dẹo đìu hiu không còn nữa mà thay bằng một thị xã đẹp của vùng đồi núi cửa ngõ của Tây Nguyên.

Đó là một thị xã gần giống như quận Kiến an của Hải Phòng, phố xá sầm uất, cửa hàng cửa hiệu dọc hai bên đường kéo dài đến mấy cây số.

Đây rồi, con sông Ba với cây cầu  mới làm, rẽ bên phải đi thêm mấy km nữa là đến hòn Công, nơi sư đoàn bộ binh 2 thân yêu của tôi đứng chân cùng các tiểu đoàn trực thuộc.

Xe dừng, hai cậu lính mặt non choẹt, quân phục gọn gàng lên xe.

- Lính sư 2 đó chú, cựu binh với tân binh nói chuyện gì cho vui đi chú ơi, chứ mấy má này khóc như ri buồn thúi ruột , cậu lái xe nói với tôi.

Hai cậu lính trẻ biết chúng tôi vào Tây nguyên đi tìm đồng đội có vẻ phục lắm. Một cậu nói:

- Khi về, chú nhớ rẽ vào sư đoàn đi chú, thỉnh thoảng các chú các bác ở ngoài đó vô thăm, các thủ trưởng chúng con quý lắm.

- Chú đi 78 ở hả chú, oánh Pon Pot chú nhỉ. Thời các chú oanh liệt thiệt đó. Nếu chú còn ở lại chắc cỡ trung đoàn trưởng trở lên chứ bộ...

- Đánh Pon Pot, các cháu biết nhiêu không ? Tôi trìu mến hỏi.

- Chúng con học tập truyền thống của sư đoàn mà chú ơi, còn nhiều chuyện chiến đấu đánh Pon Pot,, đủ chuyện thời các chú cứ lớp này đến lớp khác kể cho nhau nghe hoài mà chú...

Xe đến đèo Măng Giang, hai cậu lính xuống xe, ngoan ngoãn, lễ phép chào hỏi và không quên chúc tôi " hoàn thành nhiệm vụ của trái tim"...

Ba mươi năm trước chúng tôi cũng như mấy cậu lính của sư đoàn vừa gặp, vô tư, hồn nhiên như " một nhánh lan rừng" ra trận, chấp nhận sự gian khổ hy sinh... và gìơ đây, ba mươi năm sau, mái tóc bắt đầu điểm bạc lần mò đi tìm nhau thế này. Ước gì không bao giờ có chiến tranh để không bao giờ các cháu, những người lính thế hệ tiếp sau phải như chúng tôi...

12h30, xe tới thị xã Pleiku, bây giờ nâng cấp lên thành phố.

Anh em chúng tôi nghỉ ngơi một lát rồi chui vào quán ăn cạnh bến xe. Cái Yên, cái Chín kêu như cháy đồi đòi gọi xe ôm, tôi không chịu và bắt chúng đi bộ vì có mấy bước chân là đến nhà anh Tôn rồi, thậm chí tôi còn chỉ lối đi tắt đến nhà anh Tôn.

 Mấy đứa ngạc nhiên vì chúng đâu có biết, theo hướng dẫn của anh Tôn là "khi nào chú và các em đến bến xe thì gọi điện để anh ra đón.." anh Tôn dặn và nói vị trí nhà, tôi vào mạng xem và " xà thấp trên nóc nhà " của anh ngay gần ngã tư đường Lê Duẩn. Đứng trước cửa nhà, gọi điện, và anh Tôn chạy ra.

Hai anh em chúng tôi ôm choàng lấy nhau, anh Tôn vừa cười vừa dùng hai tay vừa lắc lắc vai tôi nói:

- Lâm con hả, trong chú bệ vệ như thế này mà sao vẫn gọi là Lâm con?, thôi anh em vào nhà đi.

Anh Tôn già, "xuống mã" đi nhiều, duy chỉ có đôi mắt và giọng nói của anh không thay đổi. Thấy anh em chúng tôi đến anh mừng lắm. Anh chỉ vào từng đứa em của Quân và nói: đây là cô Chín này, còn đây là cô Yên phải không... làm mấy đứa  tròn mắt nhìn nhau ( tôi đã nói với anh Tôn qua điện thoại rồi).

Chúng tôi vừa ngồi xuống bàn chưa kịp uống nước thì bạn anh Tôn phi đến, đõ xịch chiếc xe máy, bước vào trong nhà dáng vẻ nhanh nhẹn của một người lính:

- Đúng giờ G, báo cáo thượng tá . Anh Dinh, một sư đoàn trưởng đã nghỉ hưu, là bạn của anh Tôn nói.

- Tá tướng chó gì, vào luôn việc đi, ông một xe, tôi một xe chở hai cô này. Chú Lâm đi xe ôm đang đợi trước cửa nhà đây rồi. Các cô mang theo đồ thắp hương đi không... bây giờ ta ra nghĩa trang luôn. Đi ngay nếu không kịp, giờ giấc khớp từng li đấy.Tôi đi đầu...anh Tôn nói ngắn gọn và dứt khoát kiểu con nhà binh.

Hai đứa em của bạn tôi vừa lục túi lấy đồ mang ra nghĩa trang vừa nỉ neo khóc. Thấy vậy, tôi nói gần như quát ( lần đầu tiên tôi nói với các em như vậy):

- Nín. Bây giờ chưa phải lúc khóc, lấy đồ nhanh lên, nhớ đừng bỏ quên cái gì nhé.

- Không can được đâu, kệ cho các cô ấy khóc, nhưng vừa đi vừa khóc cũng được , anh Tôn nói.

Anh em chúng tôi vội vã lên đường. Buổi chiều, nắng hanh vàng trải trên những sườn đồi dần dần tắt. Rồi bóng chiều yếu ớt phủ lên cao nguyên một màu áo ảm đạm. Hướng trước mặt chúng tôi đi là đám mây sũng nước. Ba chiếc xe máy chở 6 người vòng vèo ra khỏi thành phố, hướng ra biên giới. Hai bên đường những đồi thông nhấp nhô, xen lẫn đồi trồng cà phê đen sẫm, dân cư thưa dần. Tôi giục anh xe ôm đi nhanh lên phía trước, phá đi quy định đội hình của anh Tôn để chụp ảnh.

Nghĩa trang Iagrai Gia lai nằm ngay ven đường, trên một đồi nhỏ thoai thoải, đẹp, yên ắng và tĩnh mịch. Xung quanh nghĩa trang có hàng rào sắt, cổng vào được xây có hoa văn cách điệu của các dân tộc Tây nguyên, tạo dấu ấn độc đáo tạo cho người đến thăm viếng cảm giác gần gũi và ấm áp.

Hai cây bách tán cao vút đứng trước kì đài như những người lính bồng súng đứng gác giấc ngủ cho đồng đội tôi. Hàng cây xanh và mấy vườn hoa nhỏ phía trước hai bên và phía sau kì đài được bố trí rất khéo như một công viên. Những bông hoa li ti đủ màu gật đầu lay động  trong cơn gió thoảng hơi lạnh của miền cao nguyên như chào đón chúng tôi... Tôi thấy nhẹ lòng vì cảnh trí nơi các đồng đội của tôi nằm.

Quản trang đi vắng nên anh em chúng tôi phải lựa một chỗ thích hợp để trèo vào. Ba chiếc xe máy và người xe ôm đứng bên ngoài đợi chúng tôi.

Mấy anh em  lan ra đi tìm mộ. Anh Tôn đi vào lô bên phải kì đài, tôi đi phía bên trái, còn anh Dinh và hai  em tôi đi vào lô bên trong.

Đâu rồi? Quân đâu rồi, sao lại thế này? Toàn mộ đồng đội của tôi chưa xác định được tên, liệu Quân có nằm trong nghĩa trang này không, có sự nhầm lẫn nào không, tôi đang lướt đi nhanh từng hàng mộ và... không thể tin vào mắt mình nữa, kìa Phương, Cầu đứng trước mặt tôi…

Bỗng anh Tôn gọi, giọng anh cố giữ vẻ điềm tĩnh nhưng không dấu nổi vẻ run run:

-   Chú Quân nằm ở đây này, như vậy là chú Quân nằm đây.

Tôi bật người lên chạy theo một phản xạ về phía có tiếng gọi của anh Tôn, ngã. Chạy, ngã rồi chạy. Hơi chếch phía sau, hai đứa em tôi ngã dúi ngã dùi, liêu xiêu vừa chạy vừa khóc... Anh Dinh cũng chạy về phía mộ của Quân, nơi anh Tôn đang đứng. Tất cả an hem tôi  nhảy, chạy thoăn thoắt,nhưng không đạp lên một ngôi mộ nào. Anh Tôn dìu hai đứa em tôi như một thủ trưởng cùng các chiến sĩ trong một trận đánh vận động năm nào

...Nơi Quân nằm đây! Tôi trút một hơi dài và thở tiếp hơi này, đến hơi khác.

Không ai nói với ai một lời nào. Chỉ còn tiếng khóc.

 Cứ để cho các em gào khóc, tiếng khóc xé ruột vang vọng giữa nghĩa trang tĩnh mịch. Bao năm rồi, nỗi mong nhớ bật ra thành tiếng khóc. Tiếng khóc nặng tình anh em. Tiếng khóc của sự vắng xa. Tiếng khóc chất chứa niềm thương người xa xứ.

- Thày ơi, anh Quân nằm ở đây thày ơi, sao bao nhiêu lần thày đi mà không gặp được anh con thày ơi. Thày theo mây theo gió về đây đi, có cả đồng đội của anh Quân nữa thày ơi... Cái Yên xé không gian của nghĩa trang bằng tiếng khóc gào gọi bố. Người đã bao nhiêu lần đi tìm Quân không thấy, ông đã mất được chục năm nay... rồi nó đổ gục xuống nấm mộ của Quân.

Cái Chín víu chặt hai tay vào bia mộ của Quân như sợ có ai đó lấy mất, nó khóc  thảm thiết:

- Ối anh ôi là là anh ôi. Bao nhiêu năm rồi chỉ có như thế này thôi hả anh ôi. Anh về phép bảo em là khi nào em lấy chồng thì anh sẽ về lo cho em. Mà anh đi biền biệt mấy mươi năm trời. Anh có biết ở nhà thày bu và chúng em khổ như thế nào không anh ơi...là anh ơi...

- Tôi, và anh Dinh đến bên các em, khẽ dỗ dành để sửa soạn thắp hương. Lúc bấy giờ tôi mới để ý đến anh Tôn. Anh Tôn ngồi đó, ngay cạnh mộ Quân, mặt anh đanh lại, mắt đỏ ngầu và nhìn chằm chằm vào bia mộ của Quân rít thuốc liên tục.

Vẫn khuôn mặt ấy, đôi mắt ấy hiển hiện trước mắt tôi, tôi đã chứng kiến những lần anh vuốt mắt cho đồng đội, nắn chân tay cho anh em, lau chùi và nhẹ nhàng gói đồng đội vào trong tấm tăng, cẩn thận nắn nót ghi tên tuổi anh em cho vào lọ penecilin hay viên đạn. Đôi mắt đỏ ngầu nhưng không giọt nước mắt, không nói một lời.

Anh, người đại đội trưởng đại đội 1 anh hùng của tiểu đoàn 15 anh hùng ngồi đó như bức tượng bên ngội mộ của Quân, người chiến sĩ của anh nằm đó.

Một lúc sau anh nói chuyện với Quân, như tình cảm của một người anh đối với người em, một người thủ trưởng gần gũi trong trong trận mạc hỏi thăm chiến sĩ mình lúc ốm đau:

- Chú Quân  này, dậy đi, có cô Chín, cô Yên cùng chú Lâm con vào đây này!

Nói xong anh đứng dậy cùng các em sửa đồ lễ thắp hương. Anh Dinh, đứng cạnh đó vỗ tay bồm bộp lên bia mộ của Quân, nói rất to:

- Nào, chú Quân dậy đi nào, các em và đồng đội ngoài quê vào đây này...

Rồi anh Dinh đứng dậy gọi rất to phá đi sự tĩnh mịch của nghĩa trang:

- Anh em ơi, người nhà thằng Quân đến đây này anh em ơi, lại đây mau  mà hút thuốc, uống rượu của đồng đội nào anh em ơi…Anh Dinh vừa đi vào các lô mộ vừa gọi như vậy, tiếng của anh vang vọng, lay động vẳng xa hút theo các hàng bia im ắng...

Anh em chúng tôi chia nhau đi thắp nhang cho từng ngôi mộ, không thể hết được, có đi đến đêm cũng chưa xong. Trước khi đi, tôi chỉ dặn hai em tôi là mang thật nhiều hương để thắp cho các anh nằm tại nghĩa trang nhưng đến đây thì chịu thật. Anh Tôn bảo với tôi, mang lên kì đài khấn chung vậy...

Nước mắt tôi nhòe nhoẹt, đồng đội tôi nằm đây nhiều quá. Người ta nói đây là nghĩa trang nhỏ, vậy nghĩa trang lớn thì bằng đâu? ...

Tôi lần mò ra chỗ mộ của Phương và Cầu...lại không thấy, hay lúc nãy tôi nhìn nhầm? Không thể nào, rõ ràng tôi thấy rồi cơ mà... Tôi lại giật mình, Phương ngọng và Cầu lại đứng trước mắt tôi... nhiều lắm cùng đại đội 3 và tiểu đoàn của tôi, đồng đội tôi nằm tại đây. Tôi mang máy ảnh chụp và chụp.

Tôi bật òa lên khóc vì sung sướng nhiều hơn là đau thương, không chỉ có một thằng nằm đây mà rất nhiều.

Như có linh tính nào đó, anh Tôn vừa bảo tôi và em Yên gọi điện thông báo về nhà thì liên tục điện thoại ở nhà gọi đến, thằng An, thằng Luật, anh Hùng...

- Quân nằm đây rồi, mồ yên mả đẹp và còn rất nhiều anh em nữa hy sinh năm 79 cũng nằm ở đây, tối về tao gọi điện cho. Mày báo để anh em mừng... tôi nói với thằng An như vậy và đọc bia mộ một số anh em quanh chỗ tôi đứng.

Bên lô bên kia, cái Chín và cái Yên cũng đang gọi điện về nhà:

- Con ơi, mẹ thấy mộ bác Quân rồi, con đưa máy cho bà ngoại. Cái Yên vừa khóc vừa nói.

Chắc đầu máy bên kia, mẹ của Quân đang đang nghe máy, cái Yên chỉ nói được một câu " bu ơi" rồi nức nở như chưa bao giờ được khóc cực thế.

*           *            *

Chúng tôi ngoái lại phía sau nhiều lần, rồi về đến nhà thì trời đã tối lắm. Tắm rửa xong thì ngồi vào bàn ăn. Chị Lánh, vợ anh Tôn làm cơm đãi anh em chúng tôi. Cái Yên cứ nằm vật ra giường ti tỉ khóc, cả anh Tôn và chị Lánh phải ra dỗ dành:

- Cô mà như thế này thì không có sức đâu, hôm nay "như vậy" là rất mừng rồi (anh Tôn rất hay nói câu "như vậy" (từ 30 năm nay rồi mà tôi rất thích). Các em ra ăn cơm rồi đi nghỉ, mai lấy sức còn nhiều việc em à, thôi nào dậy, nghe anh mà.

 Anh Tôn vác rượu ra cho tôi uống (anh quên là tôi không uống được rượu). Tôi dốc được chén thư hai thì choáng. Anh Tôn vừa cười vừa nói với tôi:

- Như vậy, chú Lâm đúng là đồ mặc quần đen. Rượu của anh là loại rượu ta uống địch khen hay. Phí đạn, phí đạn!

Tôi phì cười làm cơm "beautiful" ra cả mâm. Chị Lánh ngúyt chồng:

- Để cho chú ấy ăn, ông đúng là...

Bây giờ tôi mới vác điện thoại, cả hai cái luôn và "đốt pin" không ngừng, gọi cho bọn ở nhà và để anh Tôn nói chuyện với từng đứa…

Mi mắt kéo sập xuống, không cưỡng lại được, tôi đòi anh Tôn cho tôi đi ngủ. Sau  mấy câu anh cằn nhằn:

- Như vậy, anh định rủ chú thức cả đêm nay, sang bên kia ( khách sạn Hoàng Anh ) lên sân thượng  kiếm cái gì lai rai chuyện trò vì đã lâu quá rồi anh em mới gặp lại nhau.

- Ai bảo bác cho em uống nhiều rượu, thôi kệ, bác triển khai cho em chỗ ngủ.

Thấy tôi nói vậy, chị Lánh lục tục đứng lên sửa soạn. Thấy vậy anh Tôn nói:

- Em cứ để anh lo...

Tự tay anh chuẩn bị giường chiếu mắc màn cho tôi và không cho bất cứ ai làm việc này, tôi hiểu điều đó. Đối với anh, tôi không phải là khách đến nhà mà là một thằng em lâu ngày mới gặp lại là một thằng lính dưới quyền đi công tác lâu ngày trở về đơn vị. Anh vẫn thế...

Anh Tôn dặn tôi:

- Đêm, nếu cần đi tiểu thì cứ ra ngoài ban công "đứng bắn", mai mưa là hết, chú khỏi lo...

Nhà anh nghèo, tuyềnh toàng mặc dù anh là một sĩ quan cao cấp của bộ chỉ huy quân sự tỉnh mới nghỉ hưu hoàn toàn không như tôi nghĩ anh phải giàu có lắm.

(còn nữa)

Bùi Thế Lâm