Trung đoàn 5 - E205 - Vượt mọi khó khăn, liên tục đánh thắng

"Vượt mọi khó khăn liên tục đánh thắng" đó là 8 chữ vàng thêu trên lá cờ của Trung ương cục miền Nam tặng trung đoàn 5 (E5) khi tổng kết chiến dịch 68 - 69. Cán bộ chiến sỹ của Trung đoàn luôn tự hào được sống và chiến đấu ở đơn vị hai lần được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trung đoàn 5 - E205 - Vượt mọi khó khăn, liên tục đánh thắng

Từ trái sang đồng chí Đỗ Thanh Phong - Trợ lý Chính trị D34 và các cựu chiến binh Trung đoàn E5 - 205.

Trung đoàn 5 - Nơi hội ngộ tuổi trẻ của hai vựa lúa

Nhân dân miền Nam không chịu được ách kìm kẹp của Mỹ, ngụy đã vùng lên đấu tranh. Phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng, nhất là sau phong trào đồng khởi Bến Tre. Trước yêu cầu của cách mạng cần có các đơn vị vũ trang chủ lực mạnh, đủ sức đánh lại lực lượng quân sự của Mỹ, ngụy. Trung ương cục và Bộ chỉ huy quân sự Miền quyết định thành lập các đơn vị chủ lực từ cấp Trung đoàn đến cấp Sư đoàn trên các chiến trường. Trung đoàn 5 ra đời trong hoàn cảnh ấy!

Tiền thân của Trung đoàn 5 là Trung đoàn 1 (thiếu) của Quân khu 9 được thành lập tại vùng U Minh Thượng, huyện Hồng Văn, tỉnh Bạc Liêu. Mới thành lập, Trung đoàn thiếu, mới chỉ có 2 tiểu đoàn nhưng đã đánh thắng một số trận. Tháng 4.1965, Trung đoàn được lệnh hành quân về  kênh 11 - An Biên, nhận nhiệm vụ mới: về miền Đông Nam bộ để tham gia xây dựng quân chủ lực của Miền. Trung đoàn hành quân qua các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang,… đi qua các tỉnh, khi nghỉ chân thì thanh niên địa phương tìm tới tình nguyện đi theo. Vì thế quân số của đơn vị tăng lên nhanh chóng. Trung đoàn đến miền Đông Nam Bộ đúng ngày sinh nhật Bác Hồ (19.5.1965). Bộ chỉ huy Miền, căn cứ vào tình hình và điều kiện chiến trường đã giao nhiệm vụ mới và đổi phiên hiệu mới là "Trung đoàn 5" (E5).

Ngày 31.5.1965, tại khu rừng Bà Hảo (Tây Ninh), Trung đoàn 5 làm lễ ra mắt. Đích thân đồng chí Trần Văn Trà và bà Nguyễn Thị Định đến dự, phân tích tình hình và giao nhiệm vụ. Đồng chí Trần Thới Bưng (sau này là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Cúc là Chính ủy. Trung đoàn ra đời trong khi lực lượng vũ trang toàn miền Nam đang đấy lên phong trào " Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt". Đầu năm 1966 Trung đoàn được bổ xung các đơn vị hành quân từ miền Bắc vào. 

Thượng tá Nguyễn Thanh Tòng nhớ lại: Trung đoàn 350 đang đóng tại Đồ Sơn (Hải Phòng) thì nhận được lệnh của trên điều tiểu đoàn 9 vào Nam chiến đấu. Tiểu đoàn 9 của ông đi 3 tháng 10 ngày vào đến Campuchia, thì xảy ra sự kiện Lon Non lật đổ Quốc trưởng Xihanuc, đơn vị ông được đưa ngay về Việt Nam sáp nhập vào Trung đoàn 5.

Cựu chiến binh, Lê Văn Sam thuộc C13,D186,E1 thuộc Quân khu hữu ngạn nhớ lại: Đoàn 2088 đang huấn luyện ở khu Khe Gồi (Đồng Giao, Tam Điệp, Ninh Bình), thì tháng 12.1968, tiểu đoàn 436 được lệnh đi chiến đấu ở miền Nam, sau gần 5 tháng đơn vị của các ông có mặt ở miền Đông Nam bộ, được bổ xung vào trung đoàn 5.

Như vậy Trung đoàn 5, nòng cốt là trung đoàn 5 thành lập tại Tây Ninh, sau đó được bổ xung tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 350 (từ Hải Phòng),  tiểu đoàn 436 của quân khu Tả Ngạn (nay là Quân khu 3). Họ là những thanh niên, những quân nhân xuất thân từ những vựa lúa, những cánh đồng phì nhiêu của đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sông Hồng họp mặt tại miền Đông Nam bộ để hợp thành Trung đoàn 5 anh hùng.

Trung đoàn 5 trực thuộc Sư đoàn 5 (trong chiến tranh gọi là công trường 5), chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam bộ, một chiến trường  đã đi vào thơ ca và nổi tiếng là "gian lao và anh dũng".

TRUNG ĐOÀN 5 E205 VƯỢT MỌI KHÓ KHĂN LIÊN TỤC ĐÁNH THẮNG
Cựu chiến binh Lê Văn Sam cùng Đại Đức Thích Giác Tuệ tại Lễ cầu siêu các liệt sĩ Trung đoàn E5 - 205 tại chùa Cao Linh (Hải Phòng)

Vượt mọi khó khoăn liên tục đánh thắng

Được nhân dân miền Đông Nam Bộ nuôi dưỡng. Trung đoàn đã gắn bó với nhân dân trong những năm tháng gian khổ ác liệt nhất, trải qua nhiều thử thách và hy sinh to lớn nhất, đồng thời cũng giành được những vẻ vang nhất tô hồng truyền thống của đơn vị mình. 

Trận ra quân đầu tiên Trung đoàn 5 đã tiêu diệt gọn yếu khu Túc Trưng, rồi trận ngã ba Ông Đồn lại thắng lợi giòn dã. Đã tạo thế cho Trung đoàn có bước trưởng thành mới, vững chắc. Trung đoàn đã chiến đấu hàng trăm trận, từ cấp Trung đội đến cấp Trung đoàn với nhiều hình thức chiến thuật khác nhau. Luôn có mặt ở những nơi gian khổ ác liệt nhất, ở những thời điểm quyết định nhất.  Một số trận đánh của Trung đoàn đạt hiệu suất cao, ta thương vong thấp, đã trở thành chiến lệ, làm giáo trình huấn luyện trong các học viện, nhà trường quân sự.

Từ năm 1965 - 1967 trên chiến trường Bà Rịa - Long Khánh Trung đoàn đã phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tổ chức nhiều trận đánh góp phần làm thất bại kế hoạch hành quân tìm diệt, gom dân lập ấp chiến lược, bình định miền Nam của Mỹ - Ngụy. Trong đó có các trận nổi tiếng: Phục kích tiêu diệt một Tiểu đoàn Úc tại rừng cao su Long Tân, tổ chức phục kích địch tại cua chữ C (lộ 20). Trong trận này chỉ sau 4 giờ chiến đấu Trung đoàn diệt 48 xe tăng và M113, 10 xe cơ giới, 200 tên địch, bẻ gãy cuộc hành quân vào núi Tràm - Định Quán. Riêng Trung đội của đồng chí Nguyễn Văn Chánh diệt 14 xe tăng Tổng tiến công nổi dậy.

Mậu Thân 1968. Trung đoàn 5 tham gia trên các hướng chủ yếu của Sư đoàn như đánh sân bay Biên Hòa, cụm cơ giới Trảng Bom, góp phần cùng quân dân miền Nam làm thất bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ.

Sang giai đoạn 2 của cuộc tổng tiến công 1968 - 1969, Trung đoàn chuyển về hoạt động tại Bắc Trảng Bàng - Tây Ninh. Trung đoàn cùng lực lượng vũ trang địa phương liên tục tiến công Cầu Xe, Trảng Ông và căn cứ Bàu Me, đánh quỵ Tiểu đoàn 3. Sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới", làm cho chúng không còn khả năng càn quét theo kế hoạch. Trung đoàn được đánh giá là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Bước qua giai đoạn 3, Trung đoàn được mệnh lệnh tiến công Gò Dầu, sân bay Bến Củi và ấp chiến lược Chà Là - Dương Minh Châu - Tây Ninh, trong đó, trận đánh Gò Dầu và trận đánh sân bay Bến Củi là những trận điển hình. Tổng kết giai đoạn 3, Trung đoàn được tặng "Huân chương chiến công hạng nhất".

Năm 1969, Trung đoàn được điều về hoạt động tại Túc Trưng, Định Quán, và Đông sông La Ngà cùng với các đơn vị trong Sư đoàn gây tổn thất lớn cho sư đoàn 18 Ngụy. Trung đoàn liên tục tổ chức các trận đánh ở Túc Trưng, Bầu Tràm và cụm quân Mỹ tại Trà Tân, góp phần hoàn thành nhiệm vụ của Sư đoàn tại mặt trận Long Khánh. Tổng kết chiến dịch 68-69, Trung đoàn được Trung ương Cục tặng cờ mang 8 chữ vàng "Vượt mọi khó khăn, liên tục đánh thắng".

Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam. Tháng 3.1970 Mỹ giật dây cho tay sai Lonnon làm đảo chính ở Campuchia, thiết lập chế độ tay sai của Mỹ, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương.

Trung ương cục quyết định đưa chủ lực Miền "Tiến công nhanh mạnh, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận sinh lực địch, chiếm các địa bàn chiến lược, giành thắng lợi cho cách mạng Campuchia, hỗ trợ đắc lực cho cách mạng miền Nam và Lào".

Tháng 04.1970, trong đội hình Sư đoàn 5, Trung đoàn phối hợp với lực lượng vũ trang bạn chiến đấu trên 4 tỉnh Đông Bắc Campuchia. Ngày 06.05.1970 giải phóng thị xã Karachê, ngày 17.05.1970, giải phóng thị xã Stung-treng, sau đó liên tục tiến công mở rộng vùng giải phóng, cùng bạn tuyên truyền nhân dân ủng hộ cách mạng, thành lập chính quyền và xây dựng lực lượng vũ trang đánh Mỹ.

GIỮ VỮNG TRUYỀN THỐNG CỦA TRUNG ĐOÀN 5

Từ tháng 06.1970, do yêu cầu nhiệm vụ Trung đoàn 5 được tách thành 2 Trung đoàn. Trung đoàn 1, một Tiểu đoàn ở lại tiếp tục chiến đấu; Trung đoàn 205, hai Tiểu đoàn hoạt động độc ở lập miền Đông Bắc Campuchia. Như vậy Trung đoàn 205 và Trung đoàn 1 (Trung đoàn 5 ngày nay) có chung truyền thống lịch sử của Trung đoàn 5, ra đời từ năm 1965.

Phát huy truyền thống "Vượt mọi khó khăn, liên tục đánh thắng" trong hai năm 1970 - 1971, Trung đoàn 5-205 (E5-205) liên tục chiến đấu trên chiến trường Campuchia, là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được quân ủy - Bộ Tư lệnh Miền tặng "Huân chương quân công giải phóng hạng II" - Phần thưởng cao quý giành cho các đơn vị ở chiến trường, năm 1970 - 1971.

Từ năm 1972, Trung đoàn lại trở về chiến đấu trên đất miền Đông Nam Bộ, tham gia chiến dịch "Nguyễn Huệ", tấn công Lộc Ninh, giải phóng 30 ngàn dân. Căn cứ Lộc Ninh, sau này trở thành trung tâm chính trị của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Từ tháng 06 năm 1972, Trung đoàn chuyển về hoạt động tại đồng bằng khu 8, lập nhiều chiến công trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều trận đánh, nhiều cán bộ, chiến sỹ lập công xuất sắc, trong đó tiêu biểu là liệt sỹ Hoàng Thể Cao - Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 (nay là Tiểu đoàn 5).

Mùa khô 1973-1974 trung đoàn 205 nhận lệnh từ Trung ương cục triển khai kế hoạch bảo vệ tuyến đường Hồ chí minh vận chuyển tiếp tế từ miền bắc vào ở khu vực nam Tây Nguyên. Chiến dich Bù bông Kiến đức thuộc tỉnh Quảng Đức cũ (nay là tỉnh Đắk Nông). Trung đoàn 5- 205 cùng 429 Đặc công đã đánh chiếm cứ điểm Bu boong- Kiến đức bảo vệ an toàn 30 km hành lang đường vận chuyển vũ khí khí tài cho miền Đông Nam Bộ chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trong cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân 1975, Trung đoàn đảm nhiệm 1 hướng của Sư đoàn, chuẩn bị tiến công Mộc Hóa, giải phóng tỉnh Kiến Tường, thì được lệnh chuyển hướng về Nam Sài Gòn, cắt đứt quốc lộ 4. Trung đoàn đã cùng Trung đoàn 2 tiêu diệt 37 đồn bốt và phân chi khu quân sự, giải phóng 2 vạn dân.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn tiến công trên hướng chủ yếu của Sư đoàn, làm nhiệm vụ "Chia cắt chiến lược trong chiến dịch Hồ Chí Minh", đánh chiếm và làm chủ lộ 4 từ Bến Lức đến Tân Hiệp, góp phần vào thắng lợi hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Với những thành tích trong chiến đấu và xây dựng, kết thúc 10 năm đánh Mỹ, Trung đoàn được nhà nước tặng danh hiệu "Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang" lần thứ nhất (09/1975).

Đất nước hòa bình chưa được bao lâu thì bè lũ Pôn pốt - Yêngxary, phản bội lợi ích dân tộc Campuchia và tình cảm quốc tế đã được xây dựng trong những năm chiến đấu chống kẻ thù chung. Trong đội hình Sư đoàn 303, Trung đoàn đổi thành phiên hiệu Trung đoàn 55 và đã có mặt ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.

Trung đoàn hoạt động tại các tỉnh Công Pông chàm, Karache, Xiêm Riệp, Công Pông Thơm... tham gia các chiến dịch mùa khô, đặc biệt mùa khô 1984-1985, Trung đoàn phối hợp cùng Sư đoàn 302 đánh chiếm tổng hành dinh lực lượng Mônica ở Kà tum, tỉnh Xiêm Riệp. Từ năm 1981, Trung đoàn là lực lượng cơ động của tiền phương Bộ quốc phòng - Mặt trận 779./.

Văn Phú