Về nơi nguồn cội

(ĐTTA) - Nội tôi sinh được tám người con, bốn trai bốn gái. Quê nội tôi, một làng quê xứ Nghệ nóng bức, gian khó, khắc nghiệt, quanh năm bão lũ chưa qua, hạn hán đã đến. Đời sống người dân cơ cực, khó khăn. Người dân vùng quê tôi, từ xưa đã có truyền thống chịu thương chịu khó, tần tảo quanh năm, một nắng hai sương cũng không đủ ăn. Người dân nơi đây vốn tính cần cù, hiếu học và chan chứa nghĩa tình.

Về nơi nguồn cội

Chân dung và giấy bảo tử liệt sĩ Nguyễn Xuân Bảy

Năm 1961, ngày tôi ra đời cũng là khi chú tôi lên đường nhập ngũ. Cũng như hàng ngàn trai làng xứ Thanh Lộc, đang học dở cấp 3, chú tôi đăng ký nhập ngũ lên đường tham gia kháng chiến chống giặc Mỹ xâm lược. Là người con thứ bảy trong nhà, nội tôi đặt tên chú là Bảy. Với vóc dáng khỏe khoắn, trắng trẻo, người hơi đậm, nét mặt tươi tắn, lại có tài thổi sao, chú tôi làm say lòng bao cô gái làng cùng trang lứa. Tôi còn nhớ, mỗi lần về quê nội, cô út tôi (thứ tám trong nhà) lại kể những câu chuyện ngày chú tôi còn ở nhà cho tôi nghe. 

Chú tôi sinh ra trong gia đình ông bà nội tôi là nông dân thuần túy. Chú được kế thừa đức tính chất phác hiền lành của cha mẹ, chân chất, mộc mạc, nhưng rất chịu thương chịu khó. Là người con thứ bảy trong gia đình có tám người con. Cha tôi là thứ tư. Cha tự hào khoe với các con: Chú giống cha như đúc từ hình dáng đến cá tính. Khi còn sống, Cha tôi đau đáu một nỗi lòng mong tìm được mộ phần của em mình. Trước lúc lâm chung, Cha ao ước với tôi: Giá tìm được mộ phần chú ở đâu, cha có về với tiên tổ cũng được yên lòng. Lúc đó tôi đang công tác, công việc bận bịu, lại đi công tác luôn. Hễ có dịp đi đến đâu có thông tin về liệt sỹ là tôi lại tìm đến. Từ nghĩa trang Phú Quốc, Tiền Giang, đến Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Quảng Trị, A Lưới… Hễ có thông tin liên quan đến tên tuổi hoặc quê quán của chú tôi là tôi lại tìm đến xác minh. Cũng có nơi có ngôi mộ trùng tên lại không đúng quê quán; nơi có bia mộ có tên lại không có quê, … Nhưng đến nay, Cha tôi đã đi xa 5 năm rồi nhưng phần mộ chú tôi vẫn là con số không… Nỗi lòng này giờ là phận con cháu, tôi thật khó khăn với di nguyện của Cha.

Chú tôi tên là Nguyễn Xuân Bảy (còn gọi là Nguyễn Đình Bảy), là con thứ bảy trong gia đình. Chú tôi sinh năm 1943, tại Thôn Thanh Lâm, xã Thanh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (nhà nội tôi gần trường cấp III Thanh Lộc). 

Năm 18 tuổi khi học dở lớp 10, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, với tinh thần "Tất cả vì miền Nam thân yêu", cùng bao trai tráng của quê hương miền Bắc, chú tôi đăng ký nhập ngũ lên đường đi chiến đấu.  

Sau mấy đợt huấn luyện trên Tỉnh đội Nghệ Tĩnh (tôi nghe cô nói là chú được huấn luyện đặc công), đến tháng 4 năm 1964, chú được trên điều đi B (lúc đó gọi là B dài). Tôi nghe các bậc cha chú kể rằng: Chú tham gia chiến đấu và lập nhiều thành tích xuất sắc, được cấp trên tặng thưởng Huy hiệu Ấp Bắc và gửi Giấy chứng nhận về cho gia đình. Nhưng rồi, cũng từ sau sự kiện ấy, chú tôi bặt vô âm tín, không một lá thư, không một tin tức. 

Sau chiến dịch mùa khô 1965 - 1966, tình hình chiến trận căng thẳng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta ngày càng khốc liệt. Gia đình nội tôi, liên tục từ năm 1964 đến khi Chiến thắng lịch sử 30/4/1975, ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, gia đình nội tôi không có bất cứ một tin tức nào của chú. Phần vì do tính chất nhiệm vụ của đơn vị chiến đấu, phần vì tình hình chiến sự căng thẳng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả gia đình nội tôi chờ mãi, chờ mãi, ngóng chờ tin tức chú tôi, khấp khởi bởi sự chờ mong trong khắc khoải. Khi bác cả chuyển vào Đắk Lắk với con cháu, bác tôi đã đem theo giấy này cất giữ, làm kỷ niệm.

 Nội tôi ngày nào cũng ngóng tin, những trai làng năm xưa họ lên đường thật trẻ trai, hừng hực khí thế "sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai", giờ người còn người mất. Chờ đến mức không thể còn có thể chờ thêm được nữa, cô ruột tôi là Nguyễn Thị Tám lên Tỉnh đội tỉnh Nghệ - Tĩnh tìm, hỏi thông tin. Sau nhiều lần đi lại, hỏi thăm, vẫn một câu hẹn tiếp nhận yêu cầu tìm thông tin và xin gia đình chờ để xác minh. Thế rồi, đến tháng 1/1977, gia đình nhận được thông tin sét đánh với tờ "Giấy báo tin và chứng nhận". Chú tôi đã "hy sinh ngày 20 tháng 12 năm 1966 tại Mặt trận phía Nam, được đơn vị mai tang tại Nghĩa trang Mặt trận".

Lúc hy sinh chú mang cấp bậc Thượng sỹ, chức vụ Tiểu đội trưởng, thuộc đơn vị P2M. Cầm tờ giấy báo trên tay, cả gia đình choáng váng. Những mong đợi sự bình an sẽ đến dù chậm trễ hy vọng rằng có thể do chiến tranh khốc liệt có thể chú tôi bị lưu lạc rồi sẽ có ngày về với gia đình… giờ tan thành mây khói. Vẫn biết rằng cuộc chiến này rất ác liệt, sự hy sinh là không tránh khỏi. Nhưng con người ai cũng mong chờ những điều tốt đẹp sẽ xảy ra. Và gia đình nội tôi cũng vậy. Khi chưa có tờ giấy báo cay nghiệt ấy, cả nhà vẫn còn tia hy vọng dù rất mong manh nên cố gằng đi tìm kiếm thông tin. Nhưng khi có thông tin rồi thì thật đau xót vì nỗi mất mát và hết vô vọng. Gia đình tôi cũng như bao gia đình người Việt Nam khác, đã vĩnh viễn mất đi người thân yêu. Chỉ có điều, sự mất mát này chưa thỏa đáng trong tâm can người còn sống, bởi họ không biết thân xác con em giờ đang ở đâu? "Mặt trận phía Nam" - mênh mông là thế, tìm sao được giờ. Cũng từ đó, ông nội, bà nội tôi, các bác và cả Cha, chú và nay đến cô ruốt tôi đều lần lượt về với tổ tiên, nhưng mộ phần của chú cũng như bao người con của Tổ quốc còn nằm lại chiến trường xưa. Họ có thể đang ở trong số các nghĩa trang đã được Nhà nước quy tập, họ là những phần  mộ vô danh, cũng có thể vẫn còn ẩn mình trong rừng sâu, nơi biển khơi hay một nơi nào đó… trên mọi miền của Tổ quốc mình!

Ngày chú tôi lên đường, có người con gái cùng làng e ấp đứng bên đường tiễn đưa với niềm tin chờ người yêu trở về sau chiến thắng. Họ yêu nhau bằng mối tình đầu trong trắng như sương mai. Chiếc khăn tay còn vương vấn hương tình của nhau. Ngày biết tin chú không về, chiếc khăn đẫm nước mắt. Cô gái ấy xin phép gia đình để tang người yêu ba năm trọn nghĩa vẹn tình rồi lặng lẽ sang ngang trong sự động viên, an ủi của gia đình và bạn bè.

Nhiều năm, gia đình tôi nhiều lần tìm đến các nhà ngoại cảm tại Hà Nội những mong kiếm tìm thông tin về mộ phần của người thân. Có những thông tin được gia đình tiến hành trong nhiều ngày tại Đồng Nai, nhưng kiếm tìm cũng vẫn chỉ là tìm kiếm. Cũng như hàng triệu gia đình người Việt Nam có người thân hy sinh trong kháng chiến, đến tận hôm nay gia đình tôi vẫn tiếp tục tìm kiếm những thông tin dù là mong manh những mong sẽ biết được chú mình hiện đang ở nơi đâu. Điều đó thật giản đơn cũng thật khó khăn!

Qua bài viết này, gia đình mong chờ có được một tia hy vọng dù là mong manh. Bài viết của con xin thay lời tri ân, tưởng nhớ đến chú kính thương và những đồng đội của chú - Những chiến sỹ vinh quang đã hy sinh tuổi trẻ, sức lực và cuộc đời mình, giành lại độc lập tự do, thống nhất cho Tổ quốc hôm nay và mãi mãi về sau!

Đại tá, Anh Tuấn - Giám đốc Bảo tàng CAND